Thực trạng triển khai thí điểm Bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam (2011-2013)

19 %
81 %
Information about Thực trạng triển khai thí điểm Bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam...
Economy & Finance

Published on July 23, 2014

Author: datnamikaze

Source: slideshare.net

Description

Với trên 70% dân số làm nông nghiệp, đất trồng trọt và đất rừng chiếm 60% tổng diện tích lănh thổ, tổng giá trị nông nghiệp chiếm 20% GDP, nông nghiệp - nông thôn - nông dân chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế xă hội. Tuy nhiên, thiên tai, dịch bệnh hàng năm đă gây thiệt hại cho người nông dân với khối tài sản ước tính 1,5% GDP. Vì vậy, nhận thức được tầm quan trọng của bảo hiểm nông nghiệp đối với ngành sản xuất nông nghiệp nói riêng, đối với nền kinh tế nói chung, tháng 03/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2011-2013. Thời gian thực hiện thí điểm đã kết thúc, tuy vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình triển khai nhưng kết quả đạt được là không thể phủ nhận.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA BẢO HIỂM ĐỀ ÁN MÔN HỌC ĐỀ TÀI: Thực trạng triển khai thí điểm Bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam (2011-2013) Sinh viên: Lê Tiến Đạt Lớp: Kinh tế bảo hiểm 53A Chuyên ngành: Bảo hiểm Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS.Nguyễn Văn Định Hà nội, tháng 3 năm 2014

2

MỤC LỤC Ph n 1. S n xu t nông nghi p Vi t Nam và s c n thi t c a b o hi m nông nghi pầ ả ấ ệ ở ệ ự ầ ế ủ ả ể ệ .......................................5 1.1. Khái quát v s n xu t nông nghi p Vi t Namề ả ấ ệ ở ệ .........................................................................................5 1.1.1. N n nông nghi p nhi t đ i và đ c tr i r ng trên 4 vùng r ng l n, ph c t pề ệ ệ ớ ượ ả ộ ộ ớ ứ ạ ...................................5 1.1.2. Nông nghi p là tr đ c a n n kinh tệ ụ ỡ ủ ề ế................................................................................................5 1.1.3. N n nông nghi p v n còn l c h uề ệ ẫ ạ ậ .......................................................................................................6 1.1.4. Nông nghi p b nh h ng r t l n b i bi n đ i khí h uệ ị ả ưở ấ ớ ở ế ổ ậ .....................................................................6 1.1.5. Tình hình s n xu t nông nghi p năm 2013ả ấ ệ .........................................................................................7 1.2. S c n thi t khách quan và vai trò c a b o hi m nông nghi p Vi t Namự ầ ế ủ ả ể ệ ở ệ ..............................................8 1.2.1. S c n thi t khách quanự ầ ế ......................................................................................................................8 1.2.2. Vai trò................................................................................................................................................12 Ph n 2. Th c tr ng tri n khai b o hi m nông nghi p Vi t Namầ ự ạ ể ả ể ệ ở ệ .....................................................................14 2.1. Giai đo n tr c quy t đ nh 315/QĐ-TTg (01-3-2011)ạ ướ ế ị ..............................................................................14 2.2. Giai đo n 2011-2013ạ ................................................................................................................................17 2.2.1. V c ch , chính sáchề ơ ế ........................................................................................................................17 2.2.2. V vi c ph i h p, ch đ o th c hi n c a các B , ngànhề ệ ố ợ ỉ ạ ự ệ ủ ộ ....................................................................20 2.2.3. V vi c tri n khai th c hi n đ a ph ngề ệ ể ự ệ ở ị ươ ........................................................................................21 2.2.4. V ho t đ ng c a các DNBH, DN TBHề ạ ộ ủ ................................................................................................22 2.2.5. K t qu tri n khaiế ả ể ..............................................................................................................................22 Ph n 3. Đánh giá chung v vi c tri n khai thí đi m b o hi m nông nghi p Vi t Namầ ề ệ ể ể ả ể ệ ở ệ ...................................26 3.1. K t qu đ t đ cế ả ạ ượ .....................................................................................................................................26 3.2. H n ch và nguyên nhânạ ế ..........................................................................................................................27 3.2.1. V phía ng i dânề ườ ..............................................................................................................................27 3.2.2. V phía DNBHề ....................................................................................................................................28 3.2.3. V phía Nhà n cề ướ ..............................................................................................................................30 3.3. Ki n nghế ị...................................................................................................................................................32 3.3.1. Đ i v i BTCố ớ .........................................................................................................................................32 3.3.2. Đ i v i B NN&PTNTố ớ ộ .........................................................................................................................32 3.3.3. Đ i v i UBND các t nh, thành phố ớ ỉ ố.....................................................................................................33 3.3.4. Đ i v i DNBHố ớ .....................................................................................................................................33 LỜI NÓI ĐẦU Với trên 70% dân số làm nông nghiệp, đất trồng trọt và đất rừng chiếm 60% tổng diện tích lănh thổ, tổng giá trị nông nghiệp chiếm 20% GDP, nông nghiệp - nông thôn - nông dân chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế xă hội. Tuy nhiên, thiên tai, dịch bệnh hàng năm đă gây thiệt hại cho người nông dân với khối tài sản ước tính 1,5% GDP. Vì vậy, nhận thức được 3

tầm quan trọng của bảo hiểm nông nghiệp đối với ngành sản xuất nông nghiệp nói riêng, đối với nền kinh tế nói chung, tháng 03/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2011-2013. Thời gian thực hiện thí điểm đã kết thúc, tuy vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình triển khai nhưng kết quả đạt được là không thể phủ nhận. 4

Phần 1. Sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam và sự cần thiết của bảo hiểm nông nghiệp 1.1. Khái quát về sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam 1.1.1. Nền nông nghiệp nhiệt đới và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á nên nhiệt độ và lượng mưa chịu sự chi phối của gió mùa. Gió mùa mùa đông mang lại kiểu thời tiết lạnh và khô có mưa phùn vào cuối mùa, đây là kiểu khí hậu thích hợp các loại cây trồng ưa lạnh như su hào, cải bắp, xà lách, cà chua,... Gió mùa mùa hạ mang lại kiểu khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, đây là kiểu khí hậu rất thích hợp với các loại cây ưa nóng như bầu, bí, mướp, các loại quả... Như vậy, có thể thấy khí hậu ảnh hưởng tới sự phân bố mùa vụ trong nông nghiệp là rất lớn, mỗi mùa thích hợp với một loại cây trồng, vật nuôi khác nhau. Ngoài ra do đất nước kéo dài theo hướng B-N nên sự phân bố cây trồng và vật nuôi cũng có sự phân hóa theo không gian địa lý: trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển. Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, điều kiện thời tiết – khí hậu nước ta cũng có nhiều khó khăn lớn, như: mưa nhiều và lượng mưa thường tập trung vào ba tháng trong năm gây lũ lụt, ngập úng. Nắng nhiều thường gây nên khô hạn, có nhiều vùng thiếu cả nước cho người, vật nuôi sử dụng. Khí hậu ẩm ướt, sâu bệnh, dịch bệnh dễ phát sinh và lây lan gây ra những tổn thất lớn đối với mùa màng. 1.1.2. Nông nghiệp là trụ đỡ của nền kinh tế Đối với Việt Nam, nông nghiệp được coi là xương sống của hệ thống kinh tế, bởi lẽ, nông nghiệp là ngành có sức lan tỏa lớn nhất, có tính kết nối rất cao với nhiều ngành kinh tế. Nông nghiệp cung cấp đầu vào cho công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến xuất khẩu, đồng thời, sử dụng sản phẩm của các ngành công nghiệp và dịch vụ, như: nhiên liệu, phân bón, hóa chất, máy móc cơ khí, năng lượng, tín dụng, bảo hiểm… Ngoài ra, nông nghiệp còn liên quan mật thiết đến sức mua của dân cư và sự phát triển thị trường trong nước. Với 50% lực lượng lao động cả nước đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và 70% dân số sống ở nông thôn, mức thu nhập trong nông nghiệp sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sức cầu của thị trường nội địa và tiềm năng đầu tư dài hạn. Nông nghiệp Việt Nam đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhập cho trước hết là khoảng 70% dân cư, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế đất nước và ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Gần đây, tình hình kinh tế có khó khăn do bị tác động của khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới, nông nghiệp Việt Nam ngày càng tỏ rõ vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế. Năm 5

2011 xuất khẩu nông - lâm - thủy sản đạt gần 25 tỷ USD, tăng trưởng 29% so với năm 2010. Thặng dư thương mại toàn Ngành năm 2011 đạt trên 9,2 tỷ USD, góp phần giảm nhập siêu cả nước; nông nghiệp đóng góp khoảng 20% GDP và chiếm 30% giá trị kim ngạch xuất khẩu quốc gia. Năm 2012, nông nghiệp vẫn giữ đà tăng trưởng của năm 2011 với giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cả nước tăng 3,4%. Trong đó, nông nghiệp tăng 2,8%, lâm nghiệp 6,4%, thủy sản 4,5%. Tốc độ tăng trưởng toàn ngành (GDP) đạt 2,7%. Năm 2013, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản cả nước tăng 3,2%. Trong đó, nông nghiệp tăng 2,3%, lâm nghiệp 6%, thủy sản 4,5%. 1.1.3. Nền nông nghiệp vẫn còn lạc hậu Nông nghiệp nước ta với điểm xuất phát còn rất thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu kém, lao động thuần nông còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội, năng suất ruộng đất và năng suất lao động còn thấp,… Sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún khi có đến 99% trong số 10 triệu nông hộ trực tiếp tham gia vào sản xuất nông nghiệp là nông hộ nhỏ có sở hữu dưới 2 ha đất canh tác. Có 20 triệu lao động trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất này và mỗi năm tăng thêm khoảng 600.000 người tham gia vào lĩnh vực. Nhóm ngành nông – lâm – ngư nghiệp ở Việt Nam đang chiếm lực lượng lao động lớn nhất (xấp xỉ 50%) nhưng thiếu lao động có trình độ. Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, nhu cầu nhân lực khu vực nông nghiệp, nông thôn là rất lớn, mỗi năm cả nước cần tới trên 1 triệu lao động, nhưng đội ngũ cán bộ làm nông nghiệp, nông thôn chỉ có khoảng 9% có trình độ đại học, cao đẳng; 39,4% trung cấp và 9,8% sơ cấp. Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và quá trình cơ giới hóa nông nghiệp diễn ra rất chậm chạp, thiếu tính đồng bộ, thành tựu xuất hiện trong thời gian rất ngắn. Nông nghiệp chủ yếu phát triển về chiều rộng và chạy theo số lượng, chưa thực sự phát triển chiều sâu, nên chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh chưa cao, do đó sản phẩm tiêu thụ khó, giá bán giảm thấp dần, trong khi vật tự kỹ thuật đầu vào luôn trong xu hướng tăng cao. 1.1.4. Nông nghiệp bị ảnh hưởng rất lớn bởi biến đổi khí hậu Thứ nhất tình hình hạn hán trở nên nghiêm trọng hơn và tần suất xuất hiện dày hơn. Ví dụ năm 2010 khô hạn xảy ra nghiêm trọng tại các tỉnh ở miền núi phía Bắc và các tỉnh Bắc Trung Bộ. Khi đó tỉnh Sơn La là tỉnh có diện tích ngô lớn nhất, năng suất giảm đến 40%; còn vụ hè thu ở các tỉnh bắc Trung bộ lẽ ra phải cấy trong tháng 6 nhưng hết tháng 7 vẫn chưa thể cấy vì đồng khô hạn, ngay ở các hồ chứa cũng không có nước. Năm 2013, nóng hạn xảy ra rất nghiêm trọng ở duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Lẽ ra 16.000 ha lúa hè thu phải gieo 6

cấy, nhưng không có đủ nước nên có khuyến cáo nông dân không sản xuất. Đợt hạn này cũng đã làm hàng nghìn héc ta cà phê ở Tây Nguyên bị chết. Thứ hai rét đậm, rét hại cũng có nhiều biểu hiện thất thường. Rõ nhất là rét dài hơn, những ngày rét đậm – hại nhiều. Rét xâm nhập sâu hơn vào các tỉnh Bắc và Nam Trung Bộ. Thứ ba là diễn biến mưa trái mùa, mưa đá, lốc xoáy bất thường. Tình trạng mưa trái mùa vào lúc điều đang ra hoa làm ảnh hưởng rất lớn đến cây điều ở các tỉnh Đông Nam Bộ. Thứ tư bão cũng rất bất thường. Ví dụ như siêu bão Sơn Tinh (cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 2012) đổ bộ vào Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình. Lẽ ra thời điểm đó bão đổ bộ vào duyên hải Nam Trung Bộ, khi đó gặt xong rồi, thu hoạch xong rồi không ảnh hưởng lớn; nhưng bão lại đổ bộ vào phía bắc đang trong trọng tâm vụ đông khiến đồng bằng Sông Hồng mất hàng chục nghìn ha cây vụ đông. Thứ năm, đồng bằng sông Cửu Long chịu tình trạng xâm nhập mặn do nước biển dâng lên và tình trạng khô hạn. Diện tích lúa bị ngập vĩnh viễn tại đồng bằng sông Cửu Long nếu mực nước biển dâng 12 cm năm 2020, 30 cm năm 2050, sẽ là 1,4%, 6%, tương ứng 1.317 km2 và 1.345,44 km2 . Bên cạnh đó, sự xâm nhập mặn lấn sâu vào diện tích lúa cũng tăng lên. 1.1.5. Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2013 Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2013 bị ảnh hưởng lớn bởi thời tiết nắng hạn kéo dài đầu năm và tình trạng xâm nhập mặn diễn ra ở nhiều địa phương phía Nam dẫn đến năng suất nhiều loại cây trồng giảm so với năm trước. Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ sản phẩm cả trong và ngoài nước bị thu hẹp; giá bán nhiều sản phẩm, nhất là sản phẩm chăn nuôi, thủy sản ở mức thấp trong khi giá vật tư, nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng cao gây nhiều khó khăn cho phát triển chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản; dịch bệnh trên gia súc, gia cầm vẫn xảy ra rải rác ở khắp các địa phương gây tâm lý lo ngại cho người nuôi. Sản lượng lúa ước tính đạt 44,1 triệu tấn, tăng 338,3 nghìn tấn so với năm 2012 (Năm 2012 tăng 1,3 triệu tấn so với năm 2011), trong đó diện tích gieo trồng ước tính đạt 7,9 triệu ha, tăng 138,7 nghìn ha, năng suất đạt 55,8 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha. Sản xuất cây vụ đông ở các tỉnh phía Bắc tăng so với năm trước, trong đó lạc đạt 492,6 nghìn tấn, tăng 5,2%; rau các loại đạt 14,6 triệu tấn, tăng 5,2%, chỉ có đậu tương đạt 168,4 nghìn tấn, giảm 3%. Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển, diện tích và sản lượng một số cây chủ yếu tăng so với năm 2012, trong đó cà phê diện tích đạt 584,6 nghìn ha, tăng 2,1%, sản lượng đạt 1289,5 nghìn tấn, tăng 2,3%; cao su diện tích đạt 545,6 nghìn ha, tăng 7%, sản lượng đạt 949,1 nghìn tấn, tăng 8,2%. Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá, trong đó sản lượng cam năm 2013 ước tính đạt 530,9 7

nghìn tấn, tăng 1,7% so với năm 2012; chuối đạt 1,9 triệu tấn, tăng 5,6%; bưởi đạt 449,3 nghìn tấn, tăng 2,2%. Tuy nhiên, sản lượng vải, chôm chôm đạt 641,1 nghìn tấn, giảm 1,1% so với năm 2012; quýt đạt 177,7 nghìn tấn, giảm 2,4%. Về chăn nuôi gia súc, gia cầm, đàn trâu cả nước có 2,6 triệu con, giảm 2,6% so với năm 2012; đàn bò có 5,2 triệu con, giảm 0,7%, riêng nuôi bò sữa vẫn phát triển, tổng đàn bò sữa năm 2013 của cả nước đạt 186,3 nghìn con, tăng 11,6%; đàn lợn có 26,3 triệu con, giảm 0,9%; đàn gia cầm có 314,7 triệu con, tăng 2,04%, trong đó đàn gà 231,8 triệu con, tăng 3,6%. Tính đến ngày 18/12/2013 cả nước không còn địa phương nào có dịch lợn tai xanh và dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày, dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày còn có ở tỉnh Hòa Bình. Sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 5918,6 nghìn tấn, tăng 3,2% so với năm 2012, trong đó cá đạt 4400 nghìn tấn, tăng 1,3%; tôm đạt 704 nghìn tấn, tăng 11,7%. Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 1037 nghìn ha, giảm 0,2% so với năm 2012, trong đó diện tích nuôi cá tra 10 nghìn ha, giảm 7,2%; diện tích nuôi tôm 637 nghìn ha, tăng 1,6%. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước tính đạt 3.210 nghìn tấn, tăng 3,2%, trong đó cá 2.407 nghìn tấn, tăng 0,2%; tôm 544,9 nghìn tấn, tăng 15%. Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng có xu hướng phát triển mạnh thay cho nuôi tôm sú vì loại tôm này cho năng suất cao, thời gian nuôi ngắn và ít bị bệnh hơn. Năm 2013, diện tích thả nuôi tôm thẻ chân trắng là 65,2 nghìn ha, gấp gần 2 lần so năm 2012; sản lượng đạt 230 nghìn tấn, tăng 56,5%. Sản lượng cá tra cả năm ước tính đạt 1170 nghìn tấn, giảm 6% so với năm 2012. 1.2. Sự cần thiết khách quan và vai trò của bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam 1.2.1. Sự cần thiết khách quan Sản xuất nông nghiệp thường trải trên một phạm vi rộng lớn và hầu hết lại tiến hành ngoài trời, vì thế nó chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống như cây trồng, vật nuôi. Chúng không chỉ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, mà còn chịu sự tác động của các quy luật sinh học. Vì vậy, xác suất xảy ra rủi ro trong nông nghiệp đã lớn lại càng lớn hơn so với nhiều ngành sản xuất khác. Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, người sản xuất luôn phải đối mặt với rất nhiều các loại rủi ro khác nhau với cơ chế ảnh hưởng hết sức đa dạng và phức tạp. Với những hộ bán sản phẩm ngay sau khi thu hoạch để trả nợ thì gặp nhiều rủi ro hơn so với những hộ chủ động nâng cao chất lượng, sản xuất nhiều sản phẩm và tham gia vào các thị trường phát triển hơn. Những hộ bán sản phẩm tại các chợ địa phương thì gặp rủi ro về giá cả - được mùa mất giá. Những hộ tham gia vào cộng đồng sản xuất nông sản có khả năng gặp rủi ro bị phá vỡ hợp 8

đồng mặc dù có thể giảm rủi ro về đầu ra, có cơ hội tăng chất lượng nông sản. Những hộ có thể tiếp cận thị trường ở mức cao hơn như thị trường nông sản giá trị cao thì có thể bị ảnh hưởng từ sự vỡ bong bóng trên thị trường. Và tựu chung lại, căn cứ vào cách thức tác động, có thể chia các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam thành một số dạng chính sau đây: i. Rủi ro trực tiếp - Thiên tai: Những thiên tai thường gặp trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta chủ yếu là: + Bão và áp thấp nhiệt đới: Với vận tốc gió cao, bão và áp thấp nhiệt đới phá hủy nhà cửa và tạo thành sóng phá hoại các đê biển bảo vệ các vùng đất bên trong, tàn phá mùa màng, vật nuôi. Đồng thời, thường kèm theo mưa lớn, kéo dài trên diện rộng nên thường gây ra tình trạng ngập lụt các diện tích đất nông nghiệp trong thời gian dài. Những vùng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của bão là các tỉnh ven biển miền Bắc và miền Trung. + Úng lụt: Theo thống kê, có từ 70% đến 80% lượng mưa trung bình ở Việt Nam (2.500mm/năm) xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 11. Ở Bắc bộ, mưa chủ yếu xuất hiện vào khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, sau đó giảm dần. Mưa lớn tập trung vào tháng 7 và tháng 8 với lượng mưa trung bình từ 300mm đến 500mm. Các nghiên cứu cũng cho thấy ở miền Bắc, nếu mưa liên tục 48 tiếng thì: • Với lượng mưa 200 mm sẽ làm úng 110.000 ha • Với lượng mưa 200-250 mm sẽ làm úng 170.000-180.000 ha • Với lượng mưa 250-300 mm sẽ làm úng 220.000 ha • Với lượng mưa lớn hơn 300 mm sẽ làm úng 240.000 ha + Lũ và lũ quét: Mưa lớn gây úng lụt, nước ở các sông lên cao gây lũ, nước lớn từ thượng nguồn đổ về bất ngờ gây lũ quét… gọi chung là thủy tai – thực sự đã và đang là những nguy cơ thường trực đối với đại đa số người Việt Nam nói chung và cư dân trong khu vực nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Thống kê cho thấy có tới hơn 70% dân số Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi thủy tai. + Hạn hán: Hạn hán không những là nguyên nhân gây ra tổn thất trên phạm vi rộng đối với cây trồng và vật nuôi mà còn tác động đến vấn đề làm tăng độ nhiễm phèn, ảnh hưởng đến thủy triều và lưu thông dòng chảy. Ở miền Bắc, hạn hán thường xảy ra vào vụ Đông Xuân, còn ở miền Nam, hạn hán thường xảy ra vào vụ Hè Thu và ở miền núi, hạn thường xảy ra ở vụ mùa. 9

+ Rét và ấm: Rét và ấm thường ảnh hưởng đến sản xuất lương thực ở miền Bắc và miền Trung. Khi thời tiết rét đậm (nhiệt độ hạ xuống dưới 13o C) sẽ khiến nhiều cây trồng, vật nuôi bị chết hoặc kéo dài thời gian sinh trưởng. Ngược lại, trong điều kiện thời tiết ấm trái với quy luật thông thường sẽ khiến cho nhiều loại cây trồng bị rút ngắn thời gian sinh trưởng, mạ chóng già, kết quả là sản lượng thu hoạch giảm sút. + Động đất: Về cấu tạo địa chất, Việt Nam có hai vùng đứt gãy đó là đứt gãy sông Cả- sông Mã và đứt gãy sông Đà- sông Hồng (còn gọi là nếp đứt kiến tạo). Hai vùng này là nơi gây ra những cơn địa chấn và động đất ở nước ta. Động đất xảy ra không chỉ tàn phá nhà cửa, công trình, làm nhiều người thiệt mạng mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng đối với cây trồng, vật nuôi trong khu vực chịu ảnh hưởng. + Mưa đá: Khi rơi xuống đất, mưa đá sẽ làm dập nát cây trồng, hoa màu và làm hư hỏng nhà cửa, công trình những nơi chúng đi qua. + Sương muối: Trong điều kiện thời tiết giá rét mùa đông và đầu xuân, thường vào những đêm không có mây, gió, khí lạnh đọng lại sát mặt đất, khi tiếp xúc với những vật thể có nhiệt độ lạnh dưới 0o C thì một phần hơi nước sẽ bám vào bề mặt vật đó mà ngưng kết thành tinh thể băng nhỏ. Đó chính là sương muối. Sương muối có thể làm chết nhiều loại cây trồng và hoa màu trong vụ Đông Xuân. - Sâu bệnh, dịch bệnh + Sâu bệnh: Sâu bệnh có thể gây ra tác hại ở những mức độ khác nhau. Đối với sâu đục thân: ở mức độ nhiễm nhẹ sẽ làm mất 5%-7% sản lượng, mức độ nặng làm mất tới 50% sản lượng. Rầy nâu, đạo ôn: mức độ nhiễm nhẹ làm mất 3%-5% sản lượng, mức độ nặng mất 30%- 100% sản lượng. Đối với bệnh khô vằn: mức độ nhiễm nhẹ làm mất 2%-3% sản lượng, mức độ nặng sẽ làm mất 30%-40% sản lượng. + Dịch bệnh: Trong lĩnh vực chăn nuôi, dịch bệnh là một trong những nguyên nhân chính khiến vật nuôi ốm và chết hàng loạt. Có rất nhiều loại dịch bệnh khác nhau, như dịch tụ huyết trùng ở lợn, bệnh lở mồm long móng ở trâu bò, cúm virus H5N1 ở gia cầm… ii. Rủi ro gián tiếp - Đất: Đất nông nghiệp ở Việt Nam do Chính phủ quản lý. Việc quản lý này đi đôi với việc quy định về mục đích sử dụng đất. Điều đó có nghĩa là đất được giao để trồng một loại cây nào đó (chẳng hạn lúa) thì không được sử dụng để trồng các loại cây trồng khác. Vì thế, có một dạng rủi ro luôn tiềm ẩn đối với nông dân là ruộng đất của họ có thể bị phân chia lại hoặc được giao trồng một loại cây khác mà họ không có kinh nghiệm. 10

- Quản lý nguồn nước: Tình trạng thiếu nước và quản lý nguồn nước không tốt thường khiến cho các kế hoạch về mùa vụ không đảm bảo tính chắc chắn trong quá trình thực hiện (chẳng hạn quy mô gieo trồng 2 hay 3 vụ thâm canh…). Do thiếu cả về cơ sở hạ tầng và trình độ quản lý các công trình thủy lợi nên rất dễ dẫn tới tình trạng ngập lụt do hệ thống tiêu nước kém hoặc tràn nước từ các kênh rạch và các con sông. Mặt khác, việc cung cấp nước từ hệ thống tưới tiêu không đảm bảo có thể gây thiệt hại cho các loại cây trồng vào mùa khô. - Sử dụng phân bón: Việc lạm dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu hiện nay ở Việt Nam đã trở nên phổ biến trong sản xuất nông nghiệp, chúng luôn chứa đựng những nguy cơ tiềm ẩn đối với không chỉ những nông dân sử dụng mà còn đối với sức khoẻ của cả gia đình họ và cộng đồng. - Rủi ro bảo quản: Thực tế hiện nay cho thấy trong quá trình thu hoạch và bảo quản nông sản, bà con nông dân nước ta còn thiếu các phương tiện thu hoạch và hệ thống kho tàng bảo quản. Điều này sẽ khiến cho sản lượng thu hoạch bị hao hụt, đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng của nông sản. Theo tính toán, hàng năm có tới 15% đến 18% giá trị thiệt hại của rủi ro bảo quản là do mưa, mốc và chuột gây ra. - Sự cô lập: Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Châu Á và các nhà tài trợ khác đối với Việt Nam thì rủi ro cô lập với thị trường và nguồn thông tin do chất lượng đường giao thông quá thấp cũng như hệ thống truyền hình không đồng bộ là một trong các nhân tố chính làm cản trở tiến trình tăng trưởng thu nhập và hạn chế đói nghèo ở các vùng xa xôi, hẻo lánh. Việc cô lập này sẽ khiến người nông dân hầu như không có cơ hội để tiếp cận với các kiến thức khoa học, công nghệ tiến bộ cũng như lựa chọn thị trường đầu ra cho sản phẩm của mình. - Rủi ro tín dụng: Mặc dù hiện nay hệ thống Ngân hàng NN & Phát triển nông thôn, Ngân hàng chính sách xã hội đã có mạng lưới khá rộng trên toàn quốc song người nông dân vẫn còn khó khăn trong việc vay các khoản tiền tương đối lớn với thời gian hoàn trả trên một năm (chẳng hạn việc vay tiền để mua máy bơm nước hoặc để đầu tư vào các cây trồng lâu năm). Điều này sẽ trực tiếp kìm hãm sự phát triển và đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp. iii. Rủi ro thị trường - Lạm phát: Lạm phát không chỉ đe dọa sản xuất nông nghiệp mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế. Đối với nông dân, lạm phát sẽ làm giảm giá trị mùa màng. Lạm phát không những làm suy giảm sức mua của người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản tín dụng của nông dân. 11

- Tăng giá vật tư nông nghiệp, thủy lợi phí: Vật tư nông nghiệp, giống, phân bón, thuốc trừ sâu… là những yếu tố đầu vào hết sức quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp. Hệ thống các công trình thủy lợi, kênh mương tưới tiêu là không thể thiếu trong quá trình sản xuất. Vì thế, khi giá cả của các yếu tố này tăng cao sẽ khiến cho người nông dân rất khó khăn, làm cản trở việc nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. - Mất thị trường, sụt giá nông sản: Sau khi kết thúc quá trình sản xuất, đầu ra trở thành vấn đề then chốt đối với tất cả các hộ nông dân sản xuất có tính chất hàng hóa. Do đó, việc mất thị trường truyền thống hay sụt giá nông sản sẽ làm giảm đáng kể lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất. Điều này có thể xuất phát từ nhiều lý do, chẳng hạn như: tính tự phát trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam là khá cao; hay do việc thiếu nghiên cứu, tìm hiểu thị trường đầu ra một cách kỹ lưỡng, thiếu kinh nghiệm trong việc đàm phán, ký kết các đơn hàng; hoặc cũng có thể là tình trạng tư thương thông đồng với nhau ép giá nông sản mỗi khi được mùa… iv. Rủi ro khác - Ngoài những rủi ro chính nêu trên, sản xuất nông nghiệp còn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác, như: rủi ro ốm đau, tai nạn và chết của nông dân; rủi ro liên quan đến máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất như trộm cắp, cháy, thiệt hại trong quá trình xây dựng, hỏng hóc máy móc; các rủi ro hỗn hợp bao gồm rủi ro về chính trị, bạo loạn, chiến tranh, nhiễm phóng xạ… Trong nông nghiệp có hàng trăm, hàng ngàn loại cây trồng và vật nuôi khác nhau, mỗi loại lại thường gặp những rủi ro khác nhau. Thậm chí, có những loại rủi ro mà hậu quả của chúng gây thiệt hại mang tính chất thảm họa. Từ đó ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người chăn nuôi và trồng trọt. Mặc dù có lao động, có đất đai nhưng muốn mở rộng quy mô sản xuất, muốn đầu tư thâm canh, muốn sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, họ cũng không dám mạnh tay vay vốn để đầu tư. Những đặc điểm trên cho thấy, tính chất ổn định trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta là rất thấp. Do đó, để chủ động đối phó và có quỹ dự trữ, dự phòng bồi thường kịp thời những tổn thất do các rủi ro gây ra, biện pháp tốt nhất và hữu hiệu nhất là phải tiến hành bảo hiểm nông nghiệp. Như vậy, bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) ra đời là cần thiết khách quan. 1.2.2. Vai trò Để giải quyết những hạn chế của những phương pháp xử lý rủi ro truyền thống (nhóm biện pháp cơ chế, chính sách định hướng thị trường, nhóm biện pháp kỹ thuật, nhóm biện pháp 12

tài chính)thì xét trên phương diện xử lý rủi ro, bảo hiểm là một trong các giải pháp hết sức hữu hiệu trong việc trợ giúp và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển: Một là, bảo hiểm góp phần khắc phục các rủi ro, tổn thất trong nông nghiệp, qua đó giúp nông dân sớm khôi phục sản xuất và ổn định đời sống. Như đã phân tích, các rủi ro trong nông nghiệp rất đa dạng, phức tạp và khi xảy ra thường để lại hậu quả khá nặng nề cho sản xuất và đời sống. Với việc tham gia bảo hiểm, các rủi ro về tài chính đã được nông dân chuyển giao lại cho DNBH. Khi đó, DNBH sẽ có trách nhiệm quản lý và sử dụng quỹ sao cho có hiệu quả, đảm bảo thực hiện việc bồi thường khi có rủi ro xảy ra. Hai là, bảo hiểm góp phần mở rộng tín dụng nông nghiệp. Để có thể được vay vốn sản xuất, các ngân hàng thường đòi hỏi người vay phải có tài sản thế chấp - điều này sẽ khiến nhiều hộ không thể vay được tiền. Bằng việc tham gia bảo hiểm, các ngân hàng có thể yên tâm cho nông dân vay vì khi đó họ có khả năng trả nợ - hợp đồng bảo hiểm chính là thứ tài sản thế chấp hữu hiệu, đảm bảo cho nông dân trả được tiền vay ngay cả khi họ mất mùa. Chính vì thế, tín dụng nông nghiệp có cơ hội thuận lợi để phát triển, tạo điều kiệu cho nông dân mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm các máy móc, vật tư cần thiết phục vụ sản xuất. Ba là, bảo hiểm thúc đẩy quá trình áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất. Khi đã tham gia bảo hiểm, nông dân hoàn toàn yên tâm vì tiền vốn và phương tiện khoa học kỹ thuật họ đầu tư vào sản xuất sẽ không bị mất trắng ngay cả trong trường hợp xảy ra thiên tai, dịch bệnh bất ngờ. Bốn là, bảo hiểm góp phần giảm bớt gánh nặng chi tiêu của Ngân sách Nhà nước, bởi lẽ với việc sản xuất nông nghiệp được bảo hiểm, nguồn thu từ thuế nông nghiệp sẽ ổn định hơn, đồng thời khoản kinh phí dành để cứu trợ đồng bào các vùng bị thiên tai và tai nạn bất ngờ sẽ có điều kiện thu hẹp lại. Năm là, bảo hiểm là sự bổ sung rất hiệu quả cho những hạn chế của các biện pháp xử lý rủi ro truyền thống thường gặp phải. Cụ thể như: bảo hiểm cung cấp sự bảo vệ có hiệu quả cho các rủi ro trực tiếp; bảo hiểm là giải pháp hữu hiệu trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh vượt ra khỏi phạm vi của các biện pháp can thiệp về mặt kỹ thuật; người tham gia bảo hiểm chỉ cần đóng một khoản phí nhỏ thay vì việc phải tự tích lũy một quỹ dự trự tài chính lớn của biện pháp tự bảo hiểm; bảo hiểm là một phương cách chủ động đối phó với các rủi ro có thể xảy ra với mức bảo đảm có thể giúp người được bảo hiểm khôi phục lại hoạt động sản xuất của mình như trước khi xảy ra rủi ro… 13

Mặc dù xử lý rủi ro bằng bảo hiểm có những ưu thế như vậy song chủ yếu là nhằm bảo vệ cho các rủi ro trực tiếp – những rủi ro thường gây ra thiệt hại nặng nề nhất cho sản xuất nông nghiệp. Các rủi ro mang tính gián tiếp và thị trường thường khó có thể xác định được mức độ và hậu quả. Vì thế, về cơ bản, chúng không thuộc phạm vi bảo hiểm. Phần 2. Thực trạng triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam 2.1. Giai đoạn trước quyết định 315/QĐ-TTg (01-3-2011) Việt Nam là nước nông nghiệp nhưng BHNN lại chiếm tỉ trọng rất nhỏ, nhỏ đến nỗi nhiều người không biết đến BHNN có tồn tại ở Việt Nam hay không. Mặc dù được khởi động từ rất sớm, cách đây hơn 30 năm, song cho đến năm 2010 phí BHNN của toàn thị trường mới chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ (Bảng 1). Rất ít doanh nghiệp tham gia BHNN. Hầu như các loại cây trồng, vật nuôi, thủy sản đều không được bảo hiểm. Bảo Việt đã triển khai thí điểm BHNN từ năm 1982 tại hai huyện Nam Ninh và Vụ Bản của tỉnh Nam Định với toàn bộ diện tích trồng lúa của 2 huyện trên. Sau 2 năm triển khai thí điểm do chuyển đổi cơ chế từ hợp tác xã sản xuất nông nghiệp sang kinh tế hộ gia đình, nên việc triển khai thí điểm tạm thời dừng lại. Đến năm 1993, Bảo Việt lại tiếp tục triển khai thí điểm bảo hiểm cây lúa tại 12 tỉnh (An Giang, Bình Định, Bình Thuận, Bắc Giang, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hà Tĩnh, Kiên Giang, Sóc Trăng và Vĩnh Long), mà điển hình là tỉnh Hà Tĩnh nơi chịu ảnh hưởng của rủi ro do thiên tai nhiều nhất. Kết quả bảo hiểm này chưa thực ý nghĩa vì tổng diện tích được bảo hiểm chỉ chiếm khoảng 1,16% tổng diện tích gieo trồng toàn quốc (năm 1995). Năm 1997, Bảo Việt tiếp tục mở rộng tại 16 tỉnh, thành đối với cây lúa, với diện tích bảo hiểm lúc đó là 208.900 ha, số hộ được bảo hiểm: 315.200 hộ. Tuy nhiên, đến năm 1999, Bảo Việt phải loại bỏ lĩnh vực kinh doanh này vì không mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, thu phí được 13,05 tỷ đồng nhưng phải chi bồi thường thiệt hại đến 14,4 tỷ đồng. 14

Ngoài bảo hiểm cây lúa, Bảo Việt còn triển khai các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác, như: bảo hiểm chăn nuôi (bảo hiểm bò sữa, cá tra, cá basa ở 1 số địa phương có khu nuôi tập trung như Đồng Tháp, An Giang,…), bảo hiểm cây công nghiệp, bảo hiểm cháy rừng… Rừng và cao su (2 sản phẩm bảo hiểm cây công nghiệp chính của Bảo Việt) cũng được bảo hiểm, nhưng chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với diện tích gieo trồng thực tế. Diện tích cao su được bảo hiểm chỉ chiếm 10% (doanh thu phí bảo hiểm trong 3 năm 1996, 1997 và 1998 là 3,4 tỷ đồng, bồi thường 200 triệu đồng), còn rừng chỉ được bảo hiểm một vùng 20.000ha ở Kiên Giang. Bảo hiểm cây bạch đàn làm nguyên liệu giấy mới được thực hiện cho một dự án liên doanh trồng rừng với 44.000 ha trong 2 năm 1997, 1998 với phí bảo hiểm thu được 120.000 USD. Song, sau vài năm hoạt động, Bảo Việt vẫn không thể mở rộng được loại hình bảo hiểm này hơn nữa và cuối cùng đã phải dừng lại do chi phí quá lớn. Kết quả thí điểm đã cho thấy: bồi thường lớn hơn phí thu chưa tính chi phí quản lý, tuyên truyền quảng cáo, chi phí triển khai nghiệp vụ mới; quy mô ngày càng thu hẹp, chưa tìm được mô hình thích hợp; không quản lý được rủi ro (những năm thí điểm xét về tổng thể là những năm được mùa, không có rủi ro thiên tai lớn). Đặc biệt việc giải quyết hậu quả sau thí điểm: cán bộ dôi dư mất nhiều năm mới khắc phục được. Sau thời gian thí điểm không thành công, Bảo Việt vẫn duy trì BHNN, song quy mô rất nhỏ, tập trung vào: bảo hiểm cây cao su ở Bình Phước, Tây Ninh và bò sữa ở Kon Tum, Tuyên Quang. Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh không cao, tỷ lệ bồi thường chiếm trên 80% so với doanh thu phí bảo hiểm, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ bồi thường của các nghiệp vụ bảo hiểm khác của Bảo Việt. Cùng với Bảo Việt, Công ty TNHH bảo hiểm tổng hợp Groupama Việt Nam cũng triển khai bảo hiểm nông nghiệp. 7-2001, được sự chấp thuận của Bộ Tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm Groupama có vốn 100% nước ngoài (Pháp) – là tập đoàn bảo hiểm lớn về nông nghiệp và có nhiều kinh nghiệm trên thị trường quốc tế, sau nhiều năm nghiên cứu thị trường BHNN Việt Nam và rút kinh nghiệm từ Bảo Việt, Groupama đã thận trọng cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho vật nuôi và cây trồng, bảo hiểm tài sản, thiệt hại dùng trong sản xuất nông nghiệp, bảo hiểm việc cung ứng nguyên vật liệu thiết bị và bao tiêu các sản phẩm nông nghiệp; bảo hiểm tai nạn lao động nông nghiệp và trách nhiệm dân sự trong sản xuất nông nghiệp, bảo hiểm đối với hoạt động nuôi tôm từ năm 2002 với thị trường chủ yếu là ĐBSCL. Tuy nhiên, Groupama đã phải chấm dứt cung cấp dịch vụ bảo hiểm nuôi tôm sau một cơn bão gây ra thiệt hại nặng nề. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng doanh thu từ loại hình bảo hiểm nông nghiệp của Groupama cũng không đáng kể, tỷ lệ bồi thường rất lớn (năm 2005 tỷ lệ bồi thường lên tới 4.426%). Còn đối với bảo hiểm con gà, họ nhập 1 loại vòng từ Pháp về để đeo vào chân những con gà được bảo hiểm, nhưng sau đó loại vòng này cũng được sản xuất ở quận 5 Tp.HCM và 15

người tham gia bảo hiểm đã mua loại vòng trên về đeo cho gà của mình. Chính điều này đã khiến Groupama chỉ còn triển khai BHNN đối với các trang trại, còn hình thức bảo hiểm đối với gia đình thì đành bỏ cuộc. Năm 2003, Groupama bảo hiểm cho cả người chăn nuôi với quy mô chỉ 1 con bò, tuy nhiên bảo hiểm con nào thì con đó chết. Kết hợp cùng với bộ phận khuyến nông của địa phương kiểm tra lại mới biết nông dân chăn nuôi không đúng cách, thiếu kỹ thuật làm cho bò suy kiệt đến chết, buộc công ty bảo hiểm phải bồi thường. Sau đó, Groupama phải nâng quy mô đàn nuôi từ 3 con trở lên đối với bò và 5 con trở lên đối với lợn. Năm 2005, công ty này mở rộng địa bàn hoạt động ra ngoài khu vực đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ, đồng thời thu hẹp đối tượng bảo hiểm, theo đó, chỉ bảo hiểm cho vật nuôi (bò và lợn). Năm 2006, Groupama đã tạm thời ngừng hoạt động BHNN để đánh giá lại thị trường, nhìn nhận những tổn thất và có chiến lược phát triển mới do liên tục lỗ từ khi thành lập. Năm 2010, tham gia vào BHNN có thêm Bảo Minh bảo hiểm cây cà phê, BIC (Tổng CTCP Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam) bảo hiểm cây cao su và ABIC (Công ty cổ phần bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam) bảo hiểm bò sữa tại Nghệ An. Bên cạnh đó, những tổ chức khác như Quỹ bảo hiểm GlobalAgRick Inc cũng đã tiến hành nghiên cứu bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số đối với lũ tại Đồng Tháp và hạn hán ở Đắc Lắc; Ngân hàng Thế giới tài trợ để xây dựng đề án về phát triển bảo hiểm nông nghiệp;… nhưng tất cả những hoạt động đó mới chỉ dừng lại ở giai đoạn nghiên cứu hoặc chỉ triển khai thí điểm. Vì vậy, đến hết năm 2010, trên toàn quốc mới chỉ có khoảng 1% số cây trồng; 0,24% đàn trâu, bò; 0,1% đàn lợn và 0,04% số gia cầm được bảo hiểm. Khi gặp thiên tai, dịch bệnh, mùa màng thất bát, thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) được coi là chủ chốt cho nông dân vay, sẽ phải khoanh nợ, xóa nợ. Như vậy, thực chất ở Việt Nam, Agribank đang hoạt động như người bảo hiểm nông nghiệp với chi phí chịu rủi ro lấy từ nguồn tiền của Chính phủ, thay vì do nông dân đóng. Về phía người nông dân, họ đã phải “tự cứu mình” bằng việc tự lập ra các quỹ như: "Quỹ bảo hiểm xóm" ở xã Tân Lập (huyện Lạc Sơn, Hòa Bình), hay Quỹ bảo hiểm vật nuôi tại Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu… Theo đó, mỗi hộ sẽ đóng góp một phần sản lượng thu hoạch sau mỗi mùa vụ để chia sẻ cho các hộ khi mất mùa, gặp rủi ro, hoặc đóng bảo hiểm cho vật nuôi để khi gặp rủi ro sẽ được quỹ hỗ trợ. Hiện tổng số vốn của các quỹ đã lên tới 10 tỉ đồng. Sự ra đời của các quỹ kiểu này tuy chỉ mang tính tự phát song cũng đem lại hiệu quả tích cực, làm cho người nông dân cảm thấy rủi ro phần nào được san sẻ, nên yên tâm hơn và gắn bó 16

hơn với các tổ chức sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng phản ánh mong muốn của họ muốn có bảo hiểm trong lĩnh vực này. Về phía Nhà nước, cũng đã ban hành 1 số quy định về BHNN. Cụ thể là Điều 4, Luật KDBH (2000) quy định: “Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các nghiệp vụ bảo hiểm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp”. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05-8-2008, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nêu: "… thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, bảo đảm mức sống tối thiểu cho cư dân nông thôn". Chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020: "Nghiên cứu xây dựng quỹ tự lực tài chính, quỹ bảo hiểm về thiên tai". Nghị quyết số 22-NQ/CP, ngày 23-9-2008, của Chính phủ về "Ban hành chính sách bảo hiểm nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường". Nghị quyết số 24-NQ/CP, ngày 28-10- 2008, của Chính phủ về "Đề án thí điểm bảo hiểm nông nghiệp". Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở mức là chỉ đạo. 2.2. Giai đoạn 2011-2013 2.2.1. Về cơ chế, chính sách Trước thực trạng “dậm chân tại chỗ” nếu không muốn nói có lúc BHNN Việt Nam đứng trước nguy cơ chết yểu, nhận thức được tầm quan trọng của BHNN trong việc góp phần ổn định và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp nước nhà phát triển, ngày 01-03-2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/2011/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013 tại 20 tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước. Sau Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, việc triển khai thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đã được triển khai một cách đồng bộ với sự phối hợp thống nhất giữa Bộ Tài chính (BTC), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt, Tổng công ty cổ phần Bảo Minh, Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và địa phương. Theo đó, Thực hiện bảo hiểm cây lúa tại 7 tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận, An Giang, Đồng Tháp. Thực hiện bảo hiểm chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm tại 9 tỉnh: Bắc Ninh, Nghệ An, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Thanh Hóa, Bình Định, Bình Dương và Hà Nội. Thực hiện bảo hiểm nuôi trồng thủy sản cá tra, cá ba sa, tôm sú, tôm chân trắng tại 5 tỉnh: Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau. Theo Quyết định 315, nội dung quan trọng được đề cập là Nhà nước sẽ hỗ trợ phí bảo hiểm cho người nông dân khi tham gia BHNN, hỗ trợ chi phí quản lý và tái bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm. Đây là điều mà Việt Nam chưa từng thực hiện trước đó, sự hỗ trợ tài chính của Nhà nước đối với BHNN được 17

thực hiện cả ở cấp Trung ương và cấp địa phương với mong muốn sẽ đẩy mạnh phát triển BHNN, thu hút người nông dân tham gia bảo hiểm, góp phần ổn định và phát triển sản xuất nông nghiệp nước nhà nói riêng, an sinh xã hội cho nông thôn Việt Nam nói chung. Cụ thể: Nhà nước hỗ trợ 100% phí bảo hiểm đối với hộ nghèo, 80% đối với hộ cận nghèo, 60% đối với hộ không thuộc diện nghèo hay cận nghèo, và 20% đối với các tổ chức sản xuất nông nghiệp. Ngân sách trung ương sẽ hỗ trợ 100% đối với các tỉnh nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương; hỗ trợ 50% cho các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết về ngân sách trung ương dưới 50%, ngân sách địa phương tự đảm bảo 50% còn lại; đối với các tỉnh, thành phố còn lại, ngân sách địa phương tự đảm bảo toàn bộ. Việc hỗ trợ phí bảo hiểm được thực hiện thông qua doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), khi DNBH cấp đơn và thu phí theo hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên phải đến ngày 01-7-2011 thì chương trình thí điểm mới thực sự bắt đầu sau khi Thông tư 47/TT-BNNPTNT do Bộ NN&PTNT ban hành ngày 29-6-2011 có hướng dẫn cụ thể. Ví dụ đối tượng được bảo hiểm quy định chi tiết hơn: lợn (thịt, nái, đực giống); gia cầm thì có gà (thịt, đẻ) và vịt (thịt, đẻ); bò thì có bò (thịt, cày kéo, sinh sản) và bò sữa; trâu (thịt, cày kéo, sinh sản). Các dịch bệnh và thiên tai được bảo hiểm cũng được cụ thể hóa: thiên tai (bão lũ, lụt, hạn hán, rét đậm, rét hại, sương giá, xâm nhập mặn, sóng thần); các loại dịch bệnh cây lúa (bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, lùn sọc đen; dịch rầy nâu), lợn (dịch tai xanh, bệnh lở mồm long móng),... Mức độ thiệt hại được bảo hiểm: do ảnh hưởng của các loại thiên tai, dịch bệnh được bảo hiểm làm cho năng suất lúa thu hoạch của vùng thấp hơn 75% (<75%) năng suất bình quân vụ sản xuất trong 03 năm gần nhất; chăn nuôi thiệt hại ở mức 20%; thủy sản nuôi ở mức 30% trở lên (theo giá trị kinh tế) thì được bảo hiểm. DNBH cũng sẽ chi trả tối đa 20% giá trị bảo hiểm cho việc điều trị bệnh của đối tượng được bảo hiểm. Bên cạnh đó là quy định các tiêu chí về quy mô, quy trình sản xuất đối với cây lúa nước (Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 47) tại các vùng miền trong vụ đông – xuân và vụ mùa; quy định về quy trình chăn nuôi trâu, bò và bò sữa tham gia thí điểm tại Phụ lục II;… Ngày 17-8-2011, BTC ban hành Thông tư 121/TT-BTC hướng dẫn thực hiện các nội dung: phê chuẩn quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm; kênh phân phối; điều kiện giao kết hợp đồng; thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm; điều kiện DNBH được thanh toán hỗ trợ; trách nhiệm của các Bộ, UBND, DNBH; chế độ tài chính đối với DNBH, DN TBH. Trong đó, đáng chú ý là việc DNBH tham gia triển khai theo nguyên tắc không vì mục tiêu lợi nhuận và phải hạch toán tách biệt doanh thu, chi phí với các hoạt động BHNN (nếu có) mà DNBH đang triển khai. 18

Ngày 16-12-2011, BTC ban hành quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm nông nghiệp kèm theo Quyết định 3035/QĐ-BTC. Theo đó, cây lúa (cây lúa nước) được bảo hiểm theo chỉ số năng suất và không áp dụng mức miễn thường; đơn vị được bảo hiểm là các xã thuộc các tỉnh thực hiện thí điểm BHNN; năng suất được bảo hiểm (mức miễn thường): tính bằng 80% năng suất bình quân xã chứ không phải là 75% như trong Thông tư 47/2011/TT- BNNPTNN; người dân cũng có thể tham gia bảo hiểm bổ sung: bảo hiểm cho chi phí gieo trồng lại trong trường hợp trên 20% diện tích lúa thực tế trong xã bị thiệt hại trong thời gian cấy/sạ gây ra bởi các rủi ro được bảo hiểm với số tiền bồi thường bằng 5% số tiền bảo hiểm của diện tích lúa phải gieo cấy/sạ lại. Khác với bảo hiểm cây lúa, trong bảo hiểm vật nuôi có áp dụng miễn thường khấu trừ cho tất cả các rủi ro: 40% tổn thất được bảo hiểm, trong trường hợp vật nuôi phải tiêu hủy theo quy định của cơ quan chức năng có thẩm quyền thì là 50% tổn thất được bảo hiểm; mức miễn thường chỉ áp dụng đối với rủi ro bệnh, dịch bệnh chứ không áp dụng với rủi ro thiên tai: 10% số lượng vật nuôi được bảo hiểm cho mỗi hợp đồng bảo hiểm (chăn nuôi trang trại), 10% tổng đàn tính trên quy mô toàn xã (chăn nuôi cá lẻ). Trong bảo hiểm tôm/cá, cũng chỉ áp dụng mức miễn thường đối với dịch bệnh còn thiên tai thì không nhưng đặc biệt ở chỗ là tính theo ngày nuôi: trong 10 ngày nuôi đầu tiên mà xảy ra tổn thất do dịch bệnh thì DNBH sẽ không bồi thường; mức khấu trừ là 30% của số tiền bồi thường trên từng cơ sở nuôi trồng bị thiệt hại. Ngày 23-8-2012, Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư 43/TT-BNNPTNT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 47/2011/TT-BNNPTNT và ngày 24-8-2012, BTC ban hành quyết định 2114/QĐ-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm nông nghiệp ban hành kèm theo Quyết định 3035/2011/QĐ-BTC theo hướng mở rộng phạm vi được bảo hiểm, giảm phí đóng. Trong thiên tai được bảo hiểm thì có thêm giông, lốc xoáy; tiêu chí và quy mô địa bàn được tăng thành từ 3 xã trở lên, quy mô bảo hiểm toàn xã, bỏ quy định xã lựa chọn vùng nuôi. Đối với bảo hiểm cây lúa, mở rộng đơn vị được bảo hiểm là xã, thôn hoặc hợp tác xã; năng suất được bảo hiểm tăng từ 80% lên 90% năng suất bình quân xã; dịch bệnh có thêm bệnh bạc lá, sâu đục thân; tỷ lệ phí bảo hiểm ở cả 7 tỉnh đều giảm; bảo hiểm bổ sung: chỉ cần trên 5ha lúa thực tế trong xã bị thiệt hại trong thời gian cấy/sạ gây ra bởi rủi ro được bảo hiểm. Đối với bảo hiểm vật nuôi, bỏ quy định về điều kiện số lượng vật nuôi tham gia bảo hiểm; bỏ quy định về mức miễn thường đối với rủi ro dịch bệnh; thêm dịch bệnh tụ huyết trùng, nhiệt thán ở trâu, bò; bệnh đóng dấu, phó thương hàn, tụ huyết trùng, dịch tả ở lợn; bệnh Niu-cát-xơn (Newcastle), gumboro, dịch tả (vịt) ở gà, vịt được bảo hiểm; thêm các quy định cho vịt thịt, vịt đẻ, lợn đực giống; số tiền bảo hiểm bò sữa tăng từ 35.000.000 VNĐ/con lên 60.000.000 VNĐ/con; tỷ lệ phí thuần có mức giảm lớn. Riêng bảo 19

hiểm tôm/cá thì có trường hợp cá basa bị loại khỏi đối tượng được bảo hiểm; thêm bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan biểu mô (IHHNV) ở tôm sú, tôm thẻ chân trắng, thêm bệnh hoại tử cơ hay bệnh dục cơ do vi rút (IMNV) ở tôm thẻ chân trắng được bảo hiểm; tỷ lệ phí bảo hiểm giữ nguyên. Ngày 27-02-2013, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 358/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Quyết định 315/2011/QĐ-TTg. Theo đó, sẽ nâng mức hỗ trợ cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm BHNN từ 80% lên 90% phí bảo hiểm. Các hộ nông dân, cá nhân, tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm đối với vật nuôi thì vẫn được hưởng cơ chế, chính sách hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm và cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh. Nhưng tổng mức bồi thường bảo hiểm và mức hỗ trợ trực tiếp đối với trường hợp vật nuôi bị thiệt hại không được vượt quá giá trị kinh tế của vật nuôi tại thời điểm vật nuôi bị thiệt hại. Sau đó, ngày 06-5-2013, BTC đã ban hành Thông tư 57/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư 121/2011/TT-BTC để phù hợp với Quyết định 358 của Thủ tướng với nội dung tương tự. Ngày 08-5-2013, BTC ban hành Quyết định 1042/QĐ-BTC sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm tôm, cá theo hướng tăng mức phí đóng và các điều khoản chặt chẽ hơn, phạm vi được bảo hiểm thu hẹp lại: đơn giá thức ăn, con giống tính theo công bố của cơ quan chuyên môn do UBND tỉnh chỉ định còn hiệu lực tại thời điểm cấp đơn bảo hiểm. DNBH có quyền từ chối bồi thường 1 phần số tiền bồi thường đối với trường hợp tổn thất xảy ra mà DNBH chứng minh được: người được bảo hiểm khai báo tổn thất chậm so với quy định, không thực hiện nuôi thủy sản theo đúng mật độ, tôm chết không đồng nhất về kích cỡ được xác định nhiều loại độ tuổi cùng nuôi trong 1 cơ sở nuôi trồng. Tỷ lệ thiệt hại được bảo hiểm giảm, các nhóm ngày nuôi được chia nhỏ hơn và tỷ lệ phí bảo hiểm tăng (trước là khác nhau giữa 3 hình thức nuôi thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến, còn bây giờ là áp dụng chung cho cả 3 hình thức với mức cao nhất). Ngày 23-7-2013, BTC tiếp tục nâng tỷ lệ phí đối với bảo hiểm tôm/cá trong Quyết định 1725/QĐ-BTC. Theo đó, tỷ lệ phí bảo hiểm tôm tăng từ 9,72% lên 13,73% và tỷ lệ phí bảo hiểm cá tra tăng từ 4,82% lên 6,83%. 2.2.2. Về việc phối hợp, chỉ đạo thực hiện của các Bộ, ngành Để triển khai chính sách chế độ và nâng cao hiệu quản lý, giám sát rủi ro, sau Hội nghị sơ kết tại Nghệ An ngày 06-7-2012, BTC tiếp tục phối hợp với Bộ NN&PTNT thành lập thêm nhiều đoàn công tác thường xuyên trao đổi, làm việc với Ban chỉ đạo các địa phương để giải 20

thích chính sách chế độ, nắm tình hình triển khai ở cơ sở, các khó khăn, vướng mắc, trên cơ sở đó đã phối hợp với Ban chỉ đạo địa phương có biện pháp tháo gỡ kịp thời, đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và việc triển khai bảo hiểm nông nghiệp đúng chế độ quy định. BTC đã chỉ đạo các doanh nghiệp bảo hiểm trong việc phổ biến, hướng dẫn chính sách chế độ cho người dân, tổ chức khai thác, theo dõi thực hiện hợp đồng bảo hiểm; tăng cường công tác quản lý rủi ro; xác nhận dịch bệnh, xác định dịch bệnh và mức độ thiệt hại thực tế đảm bảo giải quyết bồi thường bảo hiểm chặt chẽ, đúng chế độ quy định, phòng ngừa trục lợi bảo hiểm. BTC đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tấn báo chí để tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng như VTV1, Truyền hình Chính phủ Vietnam online, Báo Nhân dân, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cổng thông tin Bộ Tài chính... Những thông tin của các cơ quan thông tấn báo chí đã góp phần làm cho người dân, cơ quan hữu quan hiểu rõ hơn về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, chế độ BHNN. 2.2.3. Về việc triển khai thực hiện ở địa phương Ban chỉ đạo địa phương tiếp tục được kiện toàn, thay đổi về chất: i. 100% tỉnh, huyện, xã thuộc địa bàn triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đều đã thành lập Ban chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cụ thể từng thành viên. Một số địa phương (Sóc Trăng, Vĩnh Phúc, Bến Tre) đã bổ sung Sở Công an vào thành viên Ban chỉ đạo tỉnh nhằm thực hiện công tác phòng, chống trục lợi bảo hiểm. ii. Ngoài ra, để tăng cường các biện pháp quản lý, giám sát rủi ro (từ khâu khai thác đến khâu bồi thường), đảm bảo bồi thường bảo hiểm đúng chế độ quy định, ngăn chặn trục lợi bảo hiểm, một số Ban chỉ đạo tỉnh đã thành lập Tổ thẩm định điều kiện tham gia bảo hiểm, Tổ giám định bồi thường (Trà Vinh), Tổ kiểm tra, giám sát (Bình Thuận, Sóc Trăng) hoặc Tổ giúp việc. Sau Hội nghị sơ kết tại Nghệ An, hầu hết các địa phương đã rà soát, ban hành quy trình trồng lúa, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản phù hợp với tình hình thực tế của địa phương mình làm cơ sở cho việc xác định điều kiện được bảo hiểm; tiếp tục thực hiện thống kê, rà soát các đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm; thống kê, rà soát các chỉ số như năng suất lúa, giá lúa, giá trị kinh tế về chăn nuôi, thuỷ sản làm căn cứ triển khai... Các Ban chỉ đạo địa phương đã quan tâm kiểm tra cơ sở, chỉ đạo kịp thời các sở, ban ngành giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện. Đồng thời, tích cực chỉ đạo các đơn vị chức năng phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm trong công tác tập huấn, hướng 21

dẫn quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm đến tận huyện, xã, hộ dân; vận động nông dân tích cực tham gia bảo hiểm, ký kết, theo dõi thực hiện hợp đồng bảo hiểm cũng như xác định tổn thất, nguyên nhân tổn thất để giải quyết bồi thường kịp thời, đúng chế độ quy định. Các địa phương đã chủ động tuyên truyền, phổ biến chính sách đưa tin trên đài, báo địa phương, phát hành tờ rơi

Add a comment

Related presentations

Rapport Bale III - le texte en français - Comité de Bâle sur le contrôle bancaire

La economía española tiene problemas de 1. productividad del trabajo y 2. de aprov...

El presente trabajo realizará un análisis comparativo del sector de bienes de equi...

- Η προβληματική κατάσταση της ευρωζώνης - ABS -αγορά “τιτλοποιημένων απαιτήσεων...

This presentation gives a short and simple description of the Ponzi Scheme and the...

Neste artigo, analisa-se a estratégia política econômica adotada pelo novo gove...

Related pages

Triển khai thực hiện thí điểm bảo hiểm nông ...

Triển khai thực hiện thí điểm bảo hiểm nông ... Chính phủ về thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ... sản Việt Nam.
Read more

Tập trung triển khai thí điểm bảo hiểm nông ...

... tổ chức hội nghị triển khai thực hiện thí điểm bảo hiểm ... khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ...
Read more

Nghệ An: Triển khai thí điểm bảo hiểm nông ...

... hội Việt Nam gấp đôi thời lượng dự kiến; Ba khả năng có thể xảy ra trong vụ 4 người chết tại ... tình trạng nhả ...
Read more

Người dân thờ ơ với Bảo hiểm nông nghiệp

Chương trình thí điểm Bảo hiểm thông nghiệp được Chính phủ triển khai tại 21 tỉnh thành (trong đó mỗi địa phương ...
Read more

Tình hình thực hiện Bảo hiểm nông nghiệp ở ...

... Bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam ... thực hiện thí điểm bảo hiểm nông ... triển khai thí điểm bảo hiểm nông ...
Read more

Bảo hiểm nông nghiệp tại Hà Nội: Chậm ...

Bảo hiểm nông nghiệp tại Hà Nội: Chậm triển khai, ... tại Việt Nam ... về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông ...
Read more

Bảo hiểm nông nghiệp: Triển khai thế nào cho ...

Bảo hiểm. Thông tin bảo hiểm Việt Nam. ... về triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ... được triển khai một ...
Read more

Quyết định 315/QĐ-TTg thí điểm bảo hiểm ...

Các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai thí điểm bảo hiểm nông ... điểm bảo hiểm nông nghiệp tại ... triển Việt Nam;
Read more

Bảo hiểm nông nghiệp | baotintuc.vn

Bảo hiểm nông nghiệp triển khai ... thực trạng bảo hiểm nông nghiệp ... Việt Nam đã thí điểm bảo hiểm nông ...
Read more