Luận án: Di sản hóa ở Việt Nam ở huyện Phúc Thọ, Hà Nội

0 %
100 %
Information about Luận án: Di sản hóa ở Việt Nam ở huyện Phúc Thọ, Hà Nội

Published on May 23, 2020

Author: thuytrong1

Source: slideshare.net

1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ LAN DI SẢN HÓA Ở VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP ĐỀN HÁT MÔN, HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC Hà Nội - 2019

2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ LAN DI SẢN HÓA Ở VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP ĐỀN HÁT MÔN, HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Ngành: Văn hóa học Mã số: 9.22.90.40 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Lƣơng Hồng Quang 2. TS. Hoàng Cầm Hà Nội - 2019

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ: Di sản hóa ở Việt Nam: Trƣờng hợp đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Lương Hồng Quang và TS. Hoàng Cầm. Các trích dẫn, số liệu và kết quả nêu trong Luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng. Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Tác giả luận án Trần Thị Lan

4. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU.......................................................................................11 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ........................................................................11 1.2. Cơ sở lý luận ......................................................................................................32 1.3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu ......................................................................39 Tiểu kết ....................................................................................................................50 Chƣơng 2: QUÁ TRÌNH VINH DANH DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN HÁT MÔN ...................................................................................................................................53 2.1. Quá trình vinh danh đền Hát Môn thành di tích Quốc gia đặc biệt ...................53 2.2. Quá trình vinh danh lễ hội đền Hát Môn thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia..............................................................................................................................63 2.3. Nhà nước và cộng đồng trong quá trình vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn ...................................................................................................................................71 Tiểu kết ....................................................................................................................76 Chƣơng 3: QUÁ TRÌNH HẬU VINH DANH DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN HÁT MÔN.........................................................................................................................78 3.1. Sự biến đổi của di tích và lễ hội sau vinh danh..................................................78 3.2. Nhà nước và cộng đồng trong quá trình hậu vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn .........................................................................................................................100 Tiểu kết ..................................................................................................................128 Chƣơng 4: DI SẢN HÓA ĐỀN HÁT MÔN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ BÀN LUẬN .................................................................................................................................130 4.1. Các động thái chính trị - xã hội của việc vinh danh di sản ..............................130 4.2. Những tác động của di sản hóa ........................................................................143 Tiểu kết...................................................................................................................156 KẾT LUẬN............................................................................................................158 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ........................................................163 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................164

5. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN Từ viết tắt Từ viết đầy đủ BBVDT Ban Bảo vệ di tích Cb Chủ biên DSVH Di sản văn hóa NCS Nghiên cứu sinh Nxb Nhà xuất bản STT Số thứ tự tr trang UBND Ủy ban nhân dân UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

6. DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN ÁN STT Tên bảng Số trang 1 Bảng 1: Các dự án trùng tu, xây mới tại di tích đền Hát Môn từ 2000-2018 81-82 2 Bảng 2: Mô hình quản lý nhà nước đền Hát Môn 101 3 Bảng 3: Hỗ trợ kinh phí thành viên Ban Bảo vệ di tích đền Hát Môn 113 4 Bảng 4: Sự tham gia của chính quyền và cộng đồng trong tổ chức lễ hội 122

7. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong vài thập kỉ trở lại đây, di sản văn hóa (DSVH) đã trở thành một chủ đề được giới nghiên cứu khoa học, các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng quan tâm. Điều này cho thấy di sản thiên nhiên, di tích và thực hành văn hóa ngày càng có vai trò, chức năng và ý nghĩa quan trọng trong các lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội. Ở Việt Nam, từ sau đổi mới, việc phục hồi và bảo vệ các DSVH, cả vật thể và phi vật thể đã thể hiện rõ chủ trương của nhà nước trong việc xem văn hóa là “mục tiêu và động lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998). Cùng với đó, nhiều DSVH đã được kiểm kê, lựa chọn và làm hồ sơ xếp hạng di sản ở các cấp khác nhau: cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt đối với di tích; cấp quốc gia đối với các di sản DSVH văn hóa phi vật thể. Một số DSVH “tiêu biểu” đã được đưa vào danh mục do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để xây dựng hồ sơ đệ trình Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) vinh danh trong các Danh sách Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, Di sản tư liệu thế giới, Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại (Danh sách DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại). Theo thống kê, tính đến tháng 7-2018, Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã xếp hạng gần 10.000 di tích cấp tỉnh, thành phố; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã xếp hạng 3.463 di tích quốc gia; và Thủ tướng Chính phủ đã xếp hạng 95 di tích quốc gia đặc biệt; đồng thời có trên 4 vạn di tích đã được kiểm kê theo quy định của Luật DSVH; 61.669 DSVH phi vật thể của 63 tỉnh/thành phố đã được kiểm kê; trong đó có 249 DSVH phi vật thể được Bộ VHTTDL đưa vào danh mục DSVH phi vật thể quốc gia. Trong số các DSVH của Việt Nam, UNESCO đã ghi danh 08 di sản vào danh mục Di sản thế giới theo Công ước UNESCO 1972 về Bảo vệ DSVH và Thiên nhiên Thế giới; 12 DSVH phi vật thể. Ngoài ra, theo Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO, tính đến nay,

8. 2 Việt Nam đã có 07 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh (gồm 03 di sản tư liệu thế giới và 04 di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương) [23, tr. 6]. Đặc biệt, việc vinh danh, xếp hạng DSVH /di sản hóa đã trở thành một trong những hoạt động quan trọng để thực tế hóa định hướng phát triển văn hóa quốc gia khi Việt Nam ban hành Luật DSVH năm 2001. Nó được coi là một tác nhân làm thay đổi thực hành văn hóa của cộng đồng, củng cố mối quan hệ với nhà nước của các chủ thể văn hóa, gắn kết DSVH với những sáng tạo văn hóa mới, khẳng định bản sắc văn hóa thời hiện đại... Mặt khác, trong quá trình di sản hóa, việc lựa chọn các DSVH nào, phục hồi, xếp hạng nó ra sao, các mối quan hệ giữa cộng đồng, nhà nước trong quá trình đó như thế nào… là một vấn đề khá phức tạp và thể hiện nhiều quan điểm khác nhau, những động thái chính trị, những mối tương tác quyền lực của các nhóm xã hội trong bối cảnh Việt Nam đương đại. Đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội) là một di tích cổ ở đồng bằng sông Hồng thờ Hai Bà Trưng - những nhân vật được xem là biểu tượng nói lên tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Việc thờ phụng Hai Bà Trưng từ hàng nghìn năm ở đây không chỉ có ý nghĩa về mặt tâm linh đối với cộng đồng địa phương mà còn có tầm quan trọng đặc biệt trong việc duy trì và nâng cao tâm thức của người Việt về cội nguồn, về lịch sử chung của quốc gia - dân tộc. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà trong các bài phát biểu quan trọng của nhiều nhà chính trị - ngoại giao trên thế giới khi đến Việt Nam cũng đã gợi nhắc về hình tượng Hai Bà Trưng như một biểu tượng về sự đoàn kết, khẳng định tinh thần, triết lý của cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam (bài phát biểu của cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia - tháng 5/2016; bài phát biểu tại APEC của Tổng thống Donald Trump - năm 2017; chuyến thăm đền Hai Bà Trưng của Đại tướng Robert B. Brown - Tư lệnh Bộ Tư lệnh Lục quân Thái Bình Dương Mỹ tháng 8/2018…). Nằm trong xu hướng chung về di sản hóa, di tích đền Hát Môn đã được nhà nước lựa chọn để vinh danh, xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt năm 2013, lễ hội đền Hát Môn được vinh danh là DSVH phi vật thể quốc gia năm 2016. Trong thực

9. 3 tế, không phải bất cứ các thực hành/biểu tượng văn hóa nào cũng trở thành DSVH mà quá trình di sản hóa nói chung, di sản hóa đền Hát Môn nói riêng là một quá trình lựa chọn với sự tham gia của nhiều bên liên quan. Và khi được ghi danh, được gán nhãn danh hiệu DSVH các cấp sẽ kéo theo nhiều vấn đề như nhà nước, chính quyền địa phương, cộng đồng, các công ty du lịch… “sử dụng” DSVH cho nhiều mục đích khác nhau. Khi nhà nước can thiệp ngày càng sâu vào quản lý DSVH sau khi được vinh danh cũng sẽ dẫn tới hệ lụy là cộng đồng có nguy cơ bị “ngoài lề hóa” đối với chính di sản mà trong quá khứ họ là người sáng tạo, nắm giữ và thực hành… Quá trình di sản hóa cũng có những tác động đến suy nghĩ, nhận thức và cách thức thực hành văn hóa truyền thống của cộng đồng có di sản; dẫn tới các động thái tương tác đa chiều trong mối quan hệ giữa cộng đồng, nhà nước và DSVH. Một quá trình chồng chéo, đan xen với nhiều bên tham gia làm cho chính bản thân DSVH bị biến đổi. Hay nói một cách khác, quá trình di sản hóa đã tạo nên một sân chơi, một diễn đàn, một công cụ để nhiều bên có thể tham gia với các động năng phức tạp, đa tầng khác nhau. Trong thực tế hiện nay, những thảo luận đặt ra xung quanh quá trình di sản hóa, tạo dựng DSVH ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết về lý luận và thực tiễn đòi hỏi cần phải đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu. Trên cơ sở đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề: Di sản hóa ở Việt Nam: Trƣờng hợp đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội làm đề tài luận án tiến sĩ của mình, với mong muốn đóng góp một góc nhìn mới trong bức tranh nghiên cứu vốn đa dạng và phong phú về DSVH ở Việt Nam trong bối cảnh xã hội đương đại. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Luận án nghiên cứu về quá trình lựa chọn, vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn trở thành DSVH để biện giải các động thái chính trị, xã hội và kinh tế của vấn đề di sản hóa ở Việt Nam cũng như các tác động của quá trình di sản hóa đối với việc bảo vệ, phát huy giá trị DSVH vật thể và phi vật thể.

10. 4 Mặt khác, thông qua nghiên cứu trường hợp về quá trình di sản hóa di tích và lễ hội đền Hát Môn, luận án hướng đến luận giải về mặt lý luận xu hướng di sản hóa từ góc độ thực tiễn của Việt Nam, góp phần vào nghiên cứu các vấn đề liên quan đến di sản hóa, DSVH trên thế giới trong bối cảnh quốc tế và hội nhập hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau: - Nghiên cứu tổng quan về di tích và lễ hội đền Hát Môn, quá trình hình thành, phát triển và vai trò của di tích trong việc tạo dựng bản sắc quốc gia - dân tộc và ý nghĩa đối với cộng đồng địa phương trong lịch sử. - Nghiên cứu các vấn đề lý luận về xu hướng di sản hóa ở Việt Nam và trên thế giới. - Nghiên cứu một cách có hệ thống thực tiễn quá trình lựa chọn và vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn trở thành DSVH; Chỉ ra quá trình biến đổi của di tích và lễ hội đền Hát Môn sau khi vinh danh; sự tham gia của cộng đồng, nhà nước vào quá trình di sản hóa di tích và lễ hội đền Hát Môn. - Bàn luận về những vấn đề đặt ra liên quan đến quá trình di sản hóa các di tích và thực hành văn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh xã hội chuyển đổi hiện nay. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Để có được sự hiểu biết về các động thái kinh tế, xã hội và chính trị cũng như tác động của việc di sản hoá ở đền Hát Môn, đối tượng nghiên cứu chính của luận án là di tích và lễ hội đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội và các bên liên quan tham gia vào quá trình vinh danh di sản đền và lễ hội này. 3.2. Phạm vi nghiên cứu 3.2.1. Phạm vi nội dung nghiên cứu Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án là thực trạng di sản hóa đền Hát Môn; khảo sát việc biến đổi di tích và thực hành văn hóa trước và sau vinh danh; các động thái tham gia của Nhà nước và cộng đồng trong quá trình di sản hóa.

11. 5 3.2.2. Phạm vi thời gian nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu về di tích và lễ hội đền Hát Môn, khảo sát thực tế từ trước (từ 1986 đến năm 2013) và sau khi Nhà nước công nhận là di tích quốc gia đặc biệt cho đến nay. 4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu DSVH và những vấn đề liên quan đến nó là đối tượng được nghiên cứu dưới nhiều góc nhìn khác nhau như: lịch sử, nhân học, triết học, xã hội học, du lịch học, kinh tế học… Trong phạm vi luận án này, chúng tôi tiếp cận DSVH theo hướng văn hóa học, các nội dung về quyền lực, tính chính trị của DSVH là vấn đề nghiên cứu trọng tâm. Thay vì nhìn nhận DSVH theo hướng quy chất luận (essentialism), coi di sản như một thực thể tĩnh, nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận kiến tạo luận, tập trung vào tính động của di sản, đặc biệt khám phá tính chính trị của DSVH trong mối liên hệ khăng khít với bối cảnh chính trị - xã hội của nó. Hay nói cách khác “ý tưởng về DSVH không nhất thiết phải là một “vật” mà là một quá trình xã hội và văn hóa, kéo theo những hành động nhớ về công việc đó để tạo nên những cách để hiểu và tham gia vào hiện tại…” [89, tr. 484]. DSVH không phải là cái “có sẵn”, cái đương nhiên tồn tại mà được đặt trong các chiều kích vận động, biến đổi. Quá trình vận động, biến đổi đó có nhiều động thái, bối cảnh, các bên liên quan can thiệp vào tạo nên tính phức tạp, tính liên kết và tương tác đa chiều của DSVH. Tiếp cận DSVH theo hướng văn hóa học, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành của nhiều ngành khoa học khác nhau để tìm hiểu, lý giải về tính chính trị của DSVH trong quá trình di sản hóa một cách tổng thể và sâu sắc nhất. 4.2.1. Phương pháp quan sát tham dự Phương pháp này được tác giả sử dụng trong suốt quá trình làm luận án. Đợt thực địa lần đầu tiên được tác giả tiến hành vào tháng 12/2016 với mục đích tìm hiểu tổng quan về địa bàn nghiên cứu. Tra cứu thông tin về xã Hát Môn trên website của huyện Phúc Thọ, tác giả đã liên lạc trước qua điện thoại với văn phòng UBND xã để thu xếp lịch làm việc. Khi đến trực tiếp trình bày về mục đích

12. 6 nghiên cứu của mình, tác giả đã được cán bộ địa phương giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành làm việc. Đại diện chính quyền xã đã dẫn tác giả lên đền Hát Môn, công việc đầu tiên là hướng dẫn làm “lễ trình” Hai Bà, xin phép Nhị vị Đại vương “chấp thuận” để chúng tôi thực hiện mục đích nghiên cứu của mình. Tiếp đó, tác giả luận án được giới thiệu, gặp gỡ các thành viên trong Ban Bảo vệ di tích (BBVDT) đền để nắm bắt được tình hình. Ngay từ buổi đầu tiên tiếp xúc, tác giả đã có được cái nhìn tổng quan về cơ sở vật chất, diện mạo của vùng đất cũng như di tích và lễ hội đền Hát Môn. Cũng từ buổi tiếp xúc đầu tiên, tác giả có được những thông tin về lễ hội đền Hát Môn để sắp xếp thời gian điền dã phù hợp. Lễ hội đền Hát Môn diễn ra 3 lần trong năm vào các ngày mồng 6 tháng Ba, mồng 4 tháng Chín và 24 tháng Chạp âm lịch. Tác giả đã có thời gian quan sát tham dự liên tục qua nhiều năm: lễ hội mồng 6 tháng Ba các năm 2017, 2018, 2019, mỗi dịp lễ hội từ 7-10 ngày; lễ hội mồng 4 tháng Chín các năm 2017, 2018, thời gian từ 5-7 ngày; lễ hội ngày 24 tháng Chạp năm 2017, 2018 thời gian từ 4-6 ngày; tham gia các buổi họp bàn về kế hoạch chuẩn bị tổ chức lễ hội của BBVDT, của chính quyền xã Hát Môn; các buổi tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức lễ hội diễn ra tại nhà khách của đền Hát Môn sau khi kết thúc lễ hội với sự có mặt của đại diện chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, BBVDT và cộng đồng dân cư. Tùy thuộc vào từng hoạt động diễn ra tại đền Hát Môn, tác giả có thể linh hoạt thời gian quan sát tham dự. Vào dịp tháng 4/2017, khi lần đầu tiên được tham gia vào lễ hội của đền, tác giả đã có những đêm thức trắng để tìm hiểu về việc chuẩn bị các lễ vật dâng cúng Hai Bà Trưng của dân làng cũng như toàn bộ các quy trình khác, những đối thoại, những sự thể hiện quan hệ… trong việc tổ chức lễ hội. Mặt khác, quá trình điền dã liên tục trong 3 năm vào dịp lễ hội tháng Ba âm lịch giúp tác giả có điều kiện quan sát một bức tranh toàn cảnh về lễ hội đền Hát Môn, tìm hiểu được sự tham gia của chính quyền, cộng đồng trong quá trình chuẩn bị và tổ chức lễ hội; đồng thời thấy được quy mô tổ chức, các yếu tố mới được đưa vào lễ

13. 7 hội, số lượng khách du lịch đến với hội đền Hát Môn qua các năm; những động thái chính trị, xã hội được gửi gắm trong lễ hội… Cùng với đó, tác giả cũng có 3 đợt điền dã, mỗi đợt kéo dài từ 5-7 ngày tại Hát Môn vào các thời gian khác nhau trong năm: tháng 9/2017, tháng 6/2018, tháng 2/2019. Đây là khoảng thời gian địa phương không tổ chức lễ hội, giúp tác giả có điều kiện quan sát các hoạt động diễn ra hàng ngày tại di tích và địa phương. Trong suốt quá trình điền dã, tác giả đã thực hiện việc ghi chép, chụp ảnh, ghi âm, quay video về những vấn đề liên quan đến đề tài luận án đang quan tâm tìm hiểu. 4.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu Phỏng vấn sâu là phương pháp quan trọng nhất để thực hiện đề tài luận án này. Tại địa bàn nghiên cứu, thông qua các đợt điền dã, cùng với việc quan sát tham dự, công việc chính của tác giả là tiếp xúc, phỏng vấn, trò chuyện với đại diện cán bộ, người dân địa phương, khách du lịch thuộc các nhóm tuổi, giới tính, trình độ, nghề nghiệp khác nhau. Bên cạnh các mẫu chọn có chủ đích còn có các mẫu ngẫu nhiên. Đối với từng nhóm đối tượng phỏng vấn, tác giả đều có sự chuẩn bị các câu hỏi cơ bản để gợi mở về các vấn đề nghiên cứu. Thời gian phỏng vấn đa dạng, ngoài các buổi làm việc ban ngày, nhiều buổi phỏng vấn được sắp xếp vào buổi tối. Địa điểm phỏng vấn phong phú, có khi trực tiếp tại nhà đền, khi ở nhà chứa lễ, khi tại nhà của các đối tượng phỏng vấn. Phần lớn các đối tượng tác giả phỏng vấn đều rất nhiệt tình và hiếu khách, họ sẵn sàng chia sẻ thông tin và bày tỏ quan điểm đối với những vấn đề mà tác giả đang tìm hiểu. Có rất nhiều buổi nói chuyện kéo dài 2- 3 giờ đồng hồ, thậm chí họ còn đặt thêm lịch hẹn vào các buổi sau để trao đổi hay giới thiệu cho tác giả thêm các đối tượng phỏng vấn các vấn đề mà người được phỏng vấn chưa nắm rõ. Với mục đích đa dạng hóa nguồn thông tin, tác giả đã lựa chọn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với nhiều nhóm đối tượng khác nhau: - Cán bộ quản lý địa phương, tác giả đã lựa chọn phỏng vấn đại diện chính quyền huyện/xã/các cụm dân cư, cán bộ một số ban ngành, đoàn thể (thanh niên, phụ nữ…); cán bộ làm công tác quản lý văn hóa ở trung ương, thành phố và địa

14. 8 phương. Đây là nhóm đối tượng giúp tác giả thấy được quan điểm của họ trong việc nhận thức các văn bản, chỉ đạo của cấp trên liên quan đến vấn đề DSVH; vai trò của chính bản thân họ trong quá trình di sản hóa. Đồng thời, tác giả cũng quan tâm đến các thông tin về sự phối hợp giữa họ và cộng đồng trong việc thực hiện các hoạt động bảo vệ, phát huy di sản trước và sau vinh danh, thông qua đó nắm bắt được những vấn đề liên quan đến lợi ích giữa cộng đồng, nhà nước và DSVH tại địa phương. Ngoài ra, tác giả còn dành thời gian phỏng vấn một số nhà nghiên cứu, nhà khoa học, cán bộ quản lý văn hóa các cấp để thông qua đó, tìm hiểu quan điểm, cách nhìn nhận của họ về quá trình vinh danh và hậu vinh danh các DSVH ở Việt Nam. - Cộng đồng: Cộng đồng trong nhóm phỏng vấn này rất đa dạng, bao gồm các thành viên trong BBVDT đền Hát Môn; người phục vụ công việc của nhà đền hàng ngày (ông từ, người dọn vệ sinh), người đi lễ ở đền, các đối tượng tham gia trực tiếp phục vụ trong dịp lễ hội hiện nay cũng như một số người đã từng tham gia vào lễ hội trước đây… để tìm hiểu tâm lý, ý thức và cách ứng xử của họ đối với di sản. Để có thêm tư liệu so sánh, đối chiếu, tác giả cũng phỏng vấn các cộng đồng xung quanh (không phải là cộng đồng có di sản), thấy được những suy nghĩ/quan tâm của họ khi sống cạnh một cộng đồng chủ nhân của di sản được vinh danh di tích quốc gia đặc biệt. Phần lớn thời gian lưu trú tại Hát Môn, tác giả ở lại nhà một thành viên trong BBVDT đền. Vốn là người đã từng công tác tại địa phương và tham gia BBVDT trong nhiều năm, là thủ quỹ của nhà đền nên ông nắm được hầu hết các sự kiện liên quan đến quá trình phát triển của đền Hát Môn trong mấy chục năm gần đây. Ông trở thành một người tư vấn đáng tin cậy khi tác giả có những vấn đề thắc mắc và cũng sẵn sàng giúp đỡ kết nối với nhiều người khác khi tác giả có nguyện vọng muốn tìm hiểu sâu hơn vấn đề nào đó. Mỗi khi có sự kiện quan trọng ở đền Hát Môn, ông đều liên lạc với tác giả trước đó nhiều ngày để tạo điều kiện cho tác giả sắp xếp thời gian về quan sát, tìm hiểu thêm để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình. Cũng thông qua sự sắp xếp và tạo điều kiện của ông, tác giả đã có nhiều cuộc

15. 9 trao đổi, phỏng vấn nhóm. Chẳng hạn, phỏng vấn nhóm đối tượng từng xuống Hà Nội đưa bà Nguyễn Thị Định về thờ (4 người); phỏng vấn các thành viên trong Ban tu lễ tại nhà chứa lễ (7 người); phỏng vấn các thành viên trong Ban Thường trực bảo vệ di tích (5 người)… Đây là phương pháp hiệu quả giúp tác giả có được thông tin đa chiều đồng thời kiểm chứng được một số thông tin đã được cung cấp trước hoặc sau đó. 4.2.3. Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu Với đề tài này, tác giả tiến hành tổng hợp và phân tích các nguồn tài liệu của Việt Nam và quốc tế nhằm xem xét, đánh giá các lý thuyết, các quan điểm nghiên cứu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án, gồm các nội dung về DSVH, quản lý di sản, quá trình di sản hóa, các lý thuyết/quan điểm xung quanh vấn đề di sản hóa…; các nghiên cứu về di tích và lễ hội đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Cùng với đó, tác giả tập trung phân tích các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Nhà nước, chính quyền địa phương về việc quản lý và bảo vệ DSVH nói chung, đền Hát Môn nói riêng trước và sau khi được công nhận danh hiệu DSVH ở các cấp khác nhau. Trên cơ sở tổng hợp, phân tích những nguồn tài liệu này, tác giả có được một cái nhìn tổng thể về đối tượng nghiên cứu của đề tài. Cùng với việc so sánh, đối chiếu với các tư liệu thực tế, điền dã, phỏng vấn đã làm cơ sở khoa học để tác giả diễn giải quá trình di sản hóa đền Hát Môn, thành phố Hà Nội, qua đó có thể hiểu thêm bức tranh đa dạng về DSVH ở Việt Nam trong bối cảnh xã hội đương đại. 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án Từ góc nhìn văn hóa học, luận án làm rõ quá trình lựa chọn, vinh danh một di tích và thực hành văn hóa cụ thể trở thành DSVH gắn với sự tham gia của các bên liên quan và các động thái chính trị xã hội khác nhau của mỗi bên trong thực tiễn xã hội Việt Nam sau đổi mới. Luận án phân tích những vấn đề đặt ra đối với DSVH sau khi được vinh danh, góp phần vào công tác bảo vệ, phát huy giá trị DSVH trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại.

16. 10 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận Luận án được hoàn thành cung cấp những quan điểm, những cách tiếp cận cập nhật, chuyên sâu và hệ thống về quá trình di sản hóa nói riêng, bảo vệ, phát huy DSVH Việt Nam nói chung. Những phân tích và đúc kết của luận án về quá trình vinh danh DSVH như vấn đề ngoài lề hóa, nhà nước hóa, tính chính trị của DSVH… từ một trường hợp nghiên cứu cụ thể, khách quan sẽ bổ sung những đóng góp nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật về DSVH. 6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn Từ nghiên cứu trường hợp cụ thể là quá trình di sản hóa di tích và lễ hội đền Hát Môn, luận án chỉ ra những vấn đề thực tiễn mà các DSVH ở Việt Nam đang phải đối mặt trước và sau khi được xếp hạng DSVH các cấp. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp cơ sở cho các định hướng về bảo vệ, phát huy giá trị DSVH trong bối cảnh xã hội chuyển đổi hiện nay. Mặt khác, kết quả của đề tài sẽ đóng góp thêm một nguồn tài liệu tham khảo trong thực tiễn giảng dạy, nghiên cứu về lĩnh vực DSVH. 7. Bố cục luận án Ngoài phần Mở đầu (10 trang), Kết luận (5 trang), Tài liệu tham khảo (17 trang) và Phụ lục (31 trang), luận án gồm 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu (42 trang). Chương 2: Quá trình vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn (25 trang). Chương 3: Quá trình hậu vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn (52 trang). Chương 4: Di sản hóa đền Hát Môn và những vấn đề bàn luận (28 trang).

17. 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1.1. Các công trình nghiên cứu về di sản hóa Trong xu thế toàn cầu, di sản hóa (heritagization) được xem là một hoạt động không chỉ nhằm đề cao và tôn vinh mà còn hỗ trợ cho việc bảo vệ, phát huy giá trị các sáng tạo văn hóa của tộc người hay một cộng đồng cụ thể. Hoạt động này rất được các quốc gia quan tâm để thông qua đó nhà nước có thể gắn kết hơn với cộng đồng chủ thể trong quản lý xã hội, củng cố vị thế chính trị trong nước và trước thế giới, khẳng định bề dày lịch sử phát triển cũng như giữ gìn bản sắc văn hóa quốc gia. Di sản hóa và những vấn đề xoay quanh nó vẫn luôn là đề tài có sức hút lớn đối với các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong và ngoài nước dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, với nhiều hội thảo, nhiều ấn phẩm có giá trị được xuất bản, nhiều vấn đề còn đang được tranh luận, thậm chí quan điểm của các nhà nghiên cứu còn trái ngược nhau. Trong các công trình nghiên cứu về di sản hóa, tính chính trị của việc đề cử di sản, các vấn đề liên quan đến sự tham gia của các bên liên quan cũng như các động thái chính trị và văn hoá của sự tham gia này thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả. Nhiều di tích, thực hành văn hóa được công nhận là DSVH với sự tham gia tích cực của nhà nước. Trong bài viết Anthropology‟s Payback: “The Gastronomic Meal of the French” The Ethnographic Elements of a Heritage Distinction, Jean-Louis Tornatore phân tích quy trình đề cử “bữa ăn kiểu Pháp” trong Danh sách DSVH phi vật thể của nhân loại là quá trình di sản hóa từ trên xuống, được thúc đẩy bởi các lợi ích chính trị khác nhau. Nicolas Sarkozy - Tổng thống Pháp đã kêu gọi UNESCO đưa ẩm thực phong cách Pháp vào danh sách các di sản thế giới cần được bảo vệ. Tiếp đó, một chiến dịch vận động cấp quốc gia để ẩm thực Pháp có được sự công nhận của UNESCO chính thức được phát động tại một cuộc họp báo ở Paris. Nhờ những nỗ lực đó của Chính phủ Pháp, “bữa ăn kiểu

18. 12 Pháp” đã giành được đề cử của UNESCO, được vinh danh là “văn hóa ẩm thực tốt nhất thế giới” [154, tr. 353]. Heritage Regimes and the State [Chế độ di sản và nhà nước] là công trình được tập hợp bởi nhóm tác giả người Đức là Regina F. Bendix, Aditya Eggert và Arnika Peselmann. Thông qua nghiên cứu trường hợp 17 di sản ở các địa phương thuộc các quốc gia trên thế giới được UNESCO công nhận là DSVH, các tác giả cho rằng có một “chế độ di sản” UNESCO với những nguyên tắc, mục tiêu khác nhau khi đề cử di sản. Chế độ di sản của UNESCO bắt nguồn từ nỗ lực tôn vinh các nền văn hóa đa dạng trên thế giới nhưng trong từng trường hợp cụ thể, đối với từng quốc gia, nỗ lực vinh danh di sản lại bắt nguồn từ những động thái chính trị - xã hội khác nhau với vai trò của nhiều bên tham gia như nhà nước, cộng đồng, các nhà khoa học… Đề cử và tìm kiếm sự công nhận di sản có thể được huy động cho các mục đích phát triển kinh tế và xây dựng quốc gia, như nhìn thấy trong cả những nỗ lực của người Uzbekistan và kế hoạch của người Barbadian. Mặt khác, các quốc gia có thể sử dụng danh sách di sản để thực thi các kế hoạch cải tạo đô thị như trong trường hợp di sản Khu phố cổ Havana của Cuba… Các nhóm địa phương khác, như trường hợp Tây Ban Nha, có thể sử dụng các công cụ di sản để củng cố vị trí của mình. Theo các tác giả, trên một quy mô lớn hơn, các nhóm xã hội có thể tìm kiếm sự trao quyền thông qua chế độ di sản, tìm cách thúc đẩy sự cân bằng quyền lực trong nhà nước, như trường hợp đối với các nhóm Indonesia nỗ lực hồi sinh các cấu trúc pháp lý truyền thống [169, tr. 18-19]. Cùng với nhà nước, cộng đồng địa phương cũng tích cực tham gia trong quá trình di sản hóa. Nghiên cứu The Sanità district in Naples: community involvement in developing its heritage value [Quận Sanità ở Naples: sự tham gia của cộng đồng trong việc phát triển giá trị DSVH] của C. Salomone in trong The Proceedings of the 7 International Conference th on Sustainable Tourism [Kỷ yếu của Hội nghị quốc tế lần thứ 7 về Du lịch bền vững] đã đề cập đến vai trò của cộng đồng địa phương trong quá trình di sản hóa, phục hồi di sản quận Sanita (Naples - Italia) từ những năm 1990. Ở đây, di sản được xem như là kết quả của

19. 13 một quá trình xã hội, văn hóa và kinh tế lâu dài với sự tham gia tích cực của các hiệp hội và người dân địa phương. C. Salomone miêu tả đây là quá trình di sản hóa “từ dưới lên” (the bottom up) để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và tạo việc làm cho người dân địa phương [142, tr. 229]. Sự tham gia của nhà nước và cộng đồng trong quá trình di sản hóa cũng được tác giả Michelle L. Stefano và cộng sự đề cập trong cuốn Safeguarding Intangible Cultural Heritage [Bảo vệ DSVH phi vật thể]. Công trình đã đưa ra nhận thức về tầm quan trọng của DSVH phi vật thể do nỗ lực quảng bá của UNESCO và các Công ước của tổ chức này về bảo vệ DSVH phi vật thể. Ở một khía cạnh khác, các tác giả cung cấp những sự hiểu biết về quá trình di sản hóa, thể hiện cả từ “những quyền lực tạo nên” từ các nhà chuyên môn và những người thực hành, từ “những quyền lực mới”, những tiếng nói của các cộng đồng địa phương [161]. Trong bài viết “Heritagization of the Marais district in Paris: Actors and Challenges” [Quá trình di sản hóa quận Marais, Paris, cơ hội và thách thức], tác giả Isidora Stanković đã làm rõ luận điểm: với sự tham gia của các hiệp hội, tổ chức và cộng đồng khác nhau, khu phố Marais - từ một khu vực bị xuống cấp mạnh mẽ và đối mặt với nguy cơ bị dỡ bỏ khỏi kiến trúc đô thị đã có một quá trình biến đổi để trở thành một khu phố du lịch sang trọng và quý phái, một trong những khu vực sống động nhất và có tính quốc tế tại Thủ đô nước Pháp. Theo Isidora Stanković, “có sự tham gia của nhiều hiệp hội, tổ chức và cộng đồng trong việc bảo tồn các yếu tố nhất định của di sản Marais. Tất cả họ đều đang phát triển các định nghĩa khác nhau về di sản và họ liên tục diễn giải lại quá khứ” [153, tr. 80]. Susan LT Ashley đã đề cập đến quá trình di sản hóa trong bài viết Re-telling, Re-cognition, Re-stitution: Sikh Heritagization in Canada [Kể lại, nhận thức lại, tái lập: Di sản hóa văn hóa Sikh ở Canada] thông qua việc Bảo tàng Di sản Sikh được Chính phủ Canada công nhận là thắng cảnh lịch sử quốc gia. Đây là quá trình vừa là hoạt động từ dưới lên của các thành viên cộng đồng địa phương và sáng kiến từ trên xuống được tạo ra thông qua các chính sách của chính phủ. Đối với cộng đồng người Sikh, tác giả đã cung cấp thông tin chi tiết về cách thức mà cộng đồng này đã

20. 14 tạo dựng các giá trị di sản để hỗ trợ hướng nội và các mục tiêu hướng ngoại của mình. Họ đã sử dụng việc Bảo tàng Sikh được Chính phủ công nhận là thắng cảnh lịch sử quốc gia như một hình thức truyền thông dân tộc để qua đó gia tăng “quyền công dân”, có được sự công nhận và chấp nhận của Chính phủ. Mặt khác, Chính phủ cũng thông qua quá trình công nhận di sản này để khẳng định bản sắc “đa văn hóa” của Canada. Theo Susan LT Ashley, quá trình di sản hóa là để phục vụ cho các mục đích đa dạng của các nhóm khác nhau [172]. Tương tự, trong nghiên cứu “The “Heritagization” of Konso Cultural Landscape” [Quá trình di sản hóa cảnh quan văn hóa Konso], thông qua việc lựa chọn và xây dựng hồ sơ cảnh quan văn hóa Konso thành di sản thế giới, Awoke Amzaye Assoma cho rằng, di sản hóa là quá trình có sự tham gia của nhà nước, cộng đồng địa phương và cả vai trò của UNESCO, xuất phát từ các mục đích có liên quan đến nhau: ở địa phương di sản hóa nhằm để củng cố bản sắc Konso bên cạnh việc mở rộng cơ hội kinh tế. Hơn nữa, bằng cách liên kết cộng đồng Konso với một cộng đồng toàn cầu tưởng tượng, nó thúc đẩy ý thức về tính phổ biến toàn cầu. Ở phạm vi toàn quốc, nó tăng cường sự can thiệp quan liêu của nhà nước vào các vấn đề của cộng đồng địa phương nhân danh bảo tồn và phát triển di sản. Hơn nữa, nó sử dụng để xây dựng hình ảnh và đại diện của nhà nước trên phạm vi quốc tế. Trên bình diện quốc tế, nó thúc đẩy diễn ngôn di sản của UNESCO, là một phần của diễn ngôn toàn cầu hóa. Di sản hóa thể hiện các động lực, xung đột và quan hệ quyền lực ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế [138]. Tim Oakes trong bài viết Heritage as Improvement: Cultural Display and Contested Governance in Rural China cho rằng, chính quyền và cộng đồng địa phương thường xuyên sử dụng DSVH như một công cụ quản trị mạnh mẽ để tăng cường sự gắn kết xã hội, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa và phát triển trong bối cảnh nông thôn Trung Quốc đương đại [173]. Ashworth, G.J cũng lập luận tương tự trong nghiên cứu Heritage and Economic Development: Selling the Unsellable [Di sản và phát triển kinh tế: Bán những thứ không thể bán được], theo tác giả thì cuộc chạy đua di sản không chỉ

21. 15 mang tính văn hóa hay chính trị mà còn xảy ra vì lợi ích kinh tế bởi di sản ngày nay là tài sản kinh tế quan trọng cho cả chính phủ và cá nhân [137]. Bài viết Chính trị văn hóa của lễ hội làng ở Hà Nội của tác giả Choi Horim cho rằng chiến dịch công nhận di tích lịch sử và văn hóa ở Việt Nam xuất phát từ nhu cầu của cả nhà nước và cộng đồng. Cụ thể, nhà nước thông qua việc thực hiện các chính sách văn hóa có chọn lọc để nâng cao tư tưởng của nhà nước, tạo ra “nền văn hóa xã hội chủ nghĩa”, đồng thời “bảo tồn bản sắc truyền thống để nhớ nguồn gốc và không bị mất gốc”. Từ việc công nhận các di tích và thực hành văn hóa ở các địa phương là DSVH, nhà nước có thể quản lý, kiểm soát các hoạt động tư nhân và “mọi xã hội địa phương”, giảm thiểu sự bất ổn về chính trị trong thời kỳ quá độ. Mặt khác, qua một ví dụ về một ngôi đình cụ thể ở Hà Nội mong muốn được công nhận là di tích lịch sử quốc gia, tác giả cũng cho thấy được các động thái chính trị - xã hội phức tạp trong chính cộng đồng có di sản. Theo nghiên cứu này, “dù rằng tất cả mọi người trong làng, từ trên xuống dưới, đều mong muốn một kết quả giống nhau, nhưng việc công nhận ngôi đình là di tích lịch sử lại không có ý nghĩa giống nhau với mọi người”, “việc xác nhận này là quan trọng và cần thiết nhưng không phải tất cả đều cho rằng việc này sẽ bảo đảm mang lại lợi ích như nhau cho họ” [33, tr. 118]. Trong nỗ lực để được công nhận danh hiệu, cộng đồng chia làm hai nhóm - những người có tham gia và những người không tham gia. Đối với người địa phương gốc là thành viên Hội Người cao tuổi, thông qua việc tham gia, gặp gỡ quan chức của Đảng, Nhà nước ở địa phương để tiến hành các thủ tục làm hồ sơ, họ muốn khẳng định vai trò quan trọng đối với “việc của làng mình”, qua đó đảm bảo giá trị và tính xác thực về vai trò “gốc rễ” của mình. Đồng thời gạt những người ngụ cư bằng cách nhấn mạnh thực tế là người ngụ cư không quan tâm/không tham gia việc này. Bên cạnh đó, thông qua các số liệu về công đức, tác giả cũng khẳng định điều này phản ánh sự phân hóa xã hội phức tạp, “ai là người sẵn sàng công đức và công đức bao nhiêu”. Như vậy, đối với những người có địa vị xã hội và chính trị, ví dụ như người địa phương gốc, người cao tuổi và lãnh đạo, họ sử dụng quá trình công nhận DSVH của làng như một phương tiện để cạnh tranh trong việc phô

22. 16 trương địa vị. Những mục đích/động cơ này của họ là một chiều hướng khác so với nhà nước trong quá trình di sản hóa. Công trình Performing the Divine: Mediums, markets and modernity in urban Vietnam [Trình diễn thần thánh: ông bà đồng, thị trường và thời kỳ hiện đại ở thành thị Việt Nam], Kristen Endres nghiên cứu về Đạo Mẫu - một tín ngưỡng bản địa có nguồn gốc lâu đời ở Việt Nam. Nghi thức nổi bật nhất của đạo Mẫu là lên đồng (hầu bóng, hầu thánh hay đồng bóng) - một thực hành văn hóa vốn từng bị chính quyền xem là lãng phí và mê tín dị đoan, việc hầu bóng thường phải tổ chức một cách bí mật. Từ sau đổi mới, với sự phát triển về kinh tế và cởi mở về chính trị, với đường lối “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được xem là mảnh đất màu mỡ cho sự “phú quý sinh lễ nghĩa” nói chung và việc hầu thánh nói riêng, đưa nó trở thành “một nhân tố có giá trị trong nền văn hóa và bản sắc dân tộc”. Theo tác giả đây là quá trình di sản hóa đạo Tứ Phủ trong xã hội Việt Nam đương đại, tức là quá trình đưa một thực hành văn hóa từng bị xem là “mê tín dị đoan”, là “tôn giáo” để trở thành một phần của DSVH Việt Nam. Kristen Endres bàn luận về vai trò của các tác nhân cụ thể và các mối quan hệ quyền lực trong việc hồi sinh và tái lập thực hành đạo Mẫu, trong đó nổi bật lên sự tham gia tích cực của nhiều nhà khoa học, các ông đồng, bà đồng để tìm kiếm sự công nhận chính thức danh hiệu DSVH của nhà nước [146]. Một vấn đề nghiên cứu khác được nhiều học giả quan tâm là tác động của việc vinh danh/công nhận DSVH. Một mặt, quá trình di sản hóa đã có những đóng góp tích cực trong việc bảo vệ, phát huy DSVH, được đề cập trong các nghiên cứu của Nguyễn Xuân Các [24], Nguyễn Kim Dung [40], Nguyễn Thị Hiền [47], Nguyễn Quốc Hùng [51], [52], Từ Thị Loan [70]… Theo nhà nghiên cứu Từ Thị Loan trong bài viết Bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại tại Việt Nam, di sản sau khi được vinh danh, xếp hạng sẽ có “căn cứ pháp lý quan trọng để bảo tồn và phát huy giá trị của di sản”, “Chính phủ và các cấp chính quyền sở tại sẽ phải có trách nhiệm quan tâm, đầu tư cho việc bảo vệ di sản” [70, tr. 366-367]. Theo tác giả, cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ, các địa phương có

23. 17 di sản sau khi vinh danh đã tiến hành nhiều hoạt động bảo vệ, phát huy và đạt được những kết quả khả quan trên các phương diện: nhận diện và tư liệu hóa di sản; công tác nghiên cứu; hoạt động truyền dạy, chuyển giao di sản; công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức; công tác phát huy, phục hồi các khía cạnh khác nhau của các loại hình di sản. Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng có chung quan điểm này. Nguyễn Kim Dung trong bài viết Về xây dựng hồ sơ DSVH phi vật thể trình UNESCO, cho rằng di sản được xếp hạng sẽ góp phần quan trọng trong việc “nâng cao nhận thức về di sản và thu hút sự quan tâm bảo vệ không chỉ ở tầm quốc gia mà cả ở tầm quốc tế” [40, tr. 66]. Tương tự như vậy, theo tác giả Nguyễn Quốc Hùng trong nghiên cứu Bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH - thiên nhiên thế giới phục vụ phát triển ở nước ta thì sau khi được vinh danh, các di sản đã nhận được nhiều hơn sự quan tâm của các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương, ở trong nước và quốc tế [51]. Luận điểm này tiếp tục được tác giả lập luận trong bài viết Bảo tồn các làng cổ ở Đường Lâm (Hà Tây), thực trạng và giải pháp, cho rằng “việc xếp hạng di tích không chỉ là sự vinh danh của di sản mà còn là cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản” [52, tr. 70]. Cũng đồng quan điểm này, khi tìm hiểu về tác động của việc vinh danh di sản trong bài viết Bảo tồn di sản ở đền Phù Đổng và đền Sóc sau khi được UNESCO vinh danh, tác giả Nguyễn Thị Hiền cũng đồng ý rằng, “việc vinh danh nhằm góp phần nâng cao sự tôn trọng của cộng đồng chủ nhân, mở rộng khả năng đối thoại ở cấp độ quốc gia và quốc tế, đóng góp cho sự đa dạng văn hóa” [47, tr. 266]. Một số nghiên cứu khác bàn về khía cạnh tầm ảnh hưởng/lan tỏa của DSVH sau vinh danh. Nghiên cứu của Karen Fjelstad trong Tác động của việc vinh danh của UNESCO vào cộng đồng địa phương: trường hợp thờ cúng Hùng Vương phân tích, sau khi tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được công nhận là DSVH phi vật thể của nhân loại (2011), đã hình thành những mối quan hệ xã hội mới xuyên quốc gia giữa các nhóm tâm linh, tôn giáo ở Việt Nam và cộng đồng người Việt nhập cư ở California. Hai bên cũng đã thỏa thuận cùng nhau xây dựng một trung tâm tâm

24. 18 linh để thờ cúng Hùng Vương và gìn giữ những khía cạnh tâm linh quan trọng trong nền văn hóa Việt [65]. Cùng với đó, việc vinh danh DSVH tạo ra những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy du lịch phát triển, nâng cao đời sống của người dân. Quan điểm này được đề cập đến trong các nghiên cứu của Đỗ Đức Hinh [48], Jo Caust [64], Từ Thị Loan [70], Nguyễn Đình Thanh [110], Huibin X, Marzuki A. và Razak A. Ab [152]… Theo Đỗ Đức Hinh trong bài viết Du lịch và DSVH, trong bối cảnh hiện nay, DSVH được xem là “chất liệu” để tạo ra những sản phẩm du lịch đặc thù, “là cơ sở để góp phần tạo sự phát triển bền vững của ngành du lịch, cả trước mắt và cả trong tương lai” [48, tr. 35]; tạo ra sự trải nghiệm hứng thú đối với mọi khách du lịch [110, tr. 21]. Wei Hu cũng có những nhận định tương tự trong bài viết Environmental Management, Environemental Image and the Competitive touris Attraction [Quản lý môi trường, hình ảnh môi trường và thu hút khách du lịch cạnh tranh], cho rằng sự phát triển các dịch vụ du lịch như lưu trú, vận chuyển, ăn uống phụ thuộc vào sự hấp dẫn của các di sản [176]. Và trên thực tế, những DSVH được công nhận ở các cấp khác nhau, đặc biệt là di sản thế giới có thể kéo theo sự chú ý của nhiều khách du lịch đến hơn so với khả năng thu hút trước đây của chúng. Những di sản này là những tài nguyên vô cùng quý giá trong công cuộc phát triển du lịch của một quốc gia. Jo Caust cho rằng “những người điều hành du lịch cũng sử dụng sự công nhận di sản vật thể và phi vật thể như một đặc điểm quan trọng để hút khách du lịch” [64, tr. 110]. Các tác giả Huibin X, Marzuki A. và Razak A. Ab trong nghiên cứu Conceptualizing a sustainable development model for cultural heritage tourism in Asia [Khái niệm mô hình phát triển bền vững cho du lịch DSVH ở châu Á] cũng có cùng quan điểm, cho rằng nếu không có các DSVH thế giới, du lịch sẽ không tồn tại, sẽ không có nhu cầu cho các dịch vụ du lịch khác [152]. Theo nhà nghiên cứu Từ Thị Loan, sự vinh danh còn có ý nghĩa về mặt tinh thần, củng cố niềm tự hào về di sản đồng thời góp phần “quảng bá, tôn vinh văn hóa địa phương với du khách trong và ngoài nước, kích thích sự quan tâm đối với di sản, là nguồn lợi để thúc đẩy du lịch, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống vật chất cho người dân”

25. 19 và nguồn lợi kinh tế từ việc khai thác du lịch di sản sẽ “trở thành chất xúc tác giúp cho người dân sưu tầm, lưu giữ và tái tạo các giá trị văn hóa truyền thống” [70, tr. 366-367]. Quan điểm này cũng tác giả Nguyễn Quốc Hùng khẳng định trong bài viết Bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH - thiên nhiên thế giới phục vụ phát triển ở nước ta, sau khi được vinh danh là DSVH - thiên nhiên thế giới, các di sản ở Việt Nam đã đóng góp ngày càng tích cực cho sự phát triển kinh tế trên nhiều mặt, thông qua các hoạt động tham quan, du lịch [51]. Nghiên cứu Masterpieces of Oral and Intangible Culture: Reflections on the UNESCO World Heritage List with CA Comment [Những kiệt tác văn hóa truyền khẩu và phi vật thể: Suy ngẫm về danh sách DSVH phi vật thể], Nas, Peter J.M cho rằng việc xác định các yếu tố để công nhận thành DSVH để phục vụ các mục đích khác nhau, mà ở đây là giúp bảo tồn và thúc đẩy sự chuyển giao bản sắc và giá trị văn hóa, ngăn ngừa sự suy thoái văn hóa, tạo nên niềm tự hào văn hóa và thậm chí có thể đóng vai trò như “một nguồn cảm hứng cho việc phát triển những bản sắc mới” [162]. Việc công nhận và đưa vào danh sách DSVH phi vật thể mang đến những lợi ích kinh tế tương đối, giúp phát triển du lịch di sản và tăng cơ hội việc làm. Cùng quan điểm này, Anya Chapman và Duncan Light trong nghiên cứu “The „heritagisation‟ of the British seaside resort: the rise of the „old penny arcade” [Di sản hóa các khu nghỉ mát bên bờ biển nước Anh: sự trỗi dậy của các “trò chơi xu cũ”] đã chỉ ra quá trình di sản hóa, phục hồi, làm mới các “trò chơi xu cũ” bên bờ biển nước Anh trong những thập niên gần đây là “những yếu tố quan trọng của chiến lược tái định vị và thương hiệu của các khu nghỉ dưỡng” [136, tr. 209]. Các khu nghỉ mát bên bờ biển có thể được xác định là một dạng di sản “mới nổi” và chúng thể hiện những cách thức di sản mới liên tục được đưa vào các mạch du lịch di sản [136, tr. 223]. Tác giả Harvey cũng đã khẳng định vai trò của DSVH sau khi được vinh danh là “để xây dựng bản sắc xã hội, hợp pháp hoá quyền lực chính trị, hoặc hỗ trợ phát triển du lịch” trong nghiên cứu Heritage pasts and heritage presents: Temporality, meaning and scope of heritage studies [Quá khứ di sản và hiện tại di

26. 20 sản: Tính thời sự, ý nghĩa và phạm vi nghiên cứu di sản] [149]. Ngược lại, tại các điểm di sản sau khi được vinh danh, du lịch phát triển cũng sẽ góp phần nâng cao ý thức của người dân địa phương trong việc bảo vệ di sản. Quan điểm này được đề cập trong các nghiên cứu của nhóm tác giả McKercher, B., du Cros, H: Cultural Tourism - The Partnership Between Tourism and Cultural Heritage Management [Du lịch văn hóa - Mối quan hệ giữa du lịch và quản lý DSVH] [159]; Relationship between Tourism and Cultural Heritage Management: Evidence from Hong Kong [Mối quan hệ giữa du lịch và quản lý DSVH: Bằng chứng từ Hong Kong] [160]. Bên cạnh những tác động tích cực, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, quá trình di sản hóa cũng để lại những hệ quả nhất định đối với DSVH và cộng đồng có di sản. Yim Dawnhee trong nghiên cứu Các chính sách về DSVH phi vật thể của tổ chức UNESCO và quá trình toàn cầu hóa cho rằng việc UNESCO công nhận các DSVH vật thể của thế giới phần lớn thuộc phương Tây đã “làm nảy sinh sự phân biệt phần còn lại của thế giới là “khác”, là “không phương Tây”. Nơi nào có nhiều di sản được công nhận thì được cho là giỏi hơn, văn minh hơn và phát triển hơn” và quá trình công nhận này “vô hình chung tạo cho các xã hội phương Tây quyền bá chủ thế giới” [135]. Lựa chọn đối tượng nghiên cứu là UNESCO, trong công trình A Future in Ruins: UNESCO, World Heritage, and the Dream of Peace [Tương lai trong tàn tích: UNESCO, Di sản thế giới và Giấc mơ hòa bình], Lynn Meskell đã phân tích về sự phức tạp của sứ mệnh của UNESCO trong bối cảnh xã hội đương đại. Theo Lynn Meskell, năm 1945, tổ chức UNESCO được thành lập như một cơ quan liên chính phủ nhằm thúc đẩy hòa bình, nhân đạo và hiểu biết đa văn hóa. Nhiệm vụ của nó bắt nguồn từ một tổ chức châu Âu được gọi là Ủy ban quốc tế về hợp tác trí tuệ, được thành lập bởi những nhân vật nổi bật như Henri Bergson, Marie Curie, Albert Einstein và Thomas Mann. Meskell cho rằng, UNESCO đã phát triển thành “cơ quan xây dựng thương hiệu” khi nó tạo ra một danh sách các địa điểm di sản thế giới, tạo ra sự cạnh tranh giữa các quốc gia. Quá trình di sản hóa đôi khi gây ra những vấn đề không lường trước được, “có những tác động đối với quyền lợi,

27. 21 quyền lực và hợp pháp” và thậm chí là tác nhân dẫn đến “viễn cảnh khủng bố” nơi những kẻ khủng bố hoặc người bất đồng quan điểm nhắm mục tiêu là các địa điểm được vinh danh. Thông qua việc công nhận các Di sản Thế giới, sứ mệnh của UNESCO là “chấm dứt xung đột toàn cầu và giúp thế giới xây dựng lại vật chất và đạo đức”, tuy nhiên, tác giả lập luận rằng, ngày càng nhiều những nỗ lực đó đã vượt ra khỏi sự mong đợi ban đầu của UNESCO, dẫn đến những hệ quả làm gia tăng và kéo dài sự xung đột căng thẳng giữa các địa phương [157]. Nhiều nhà nghiên cứu nhìn nhận quá trình di sản hóa đã dẫn tới sự biến đổi của DSVH trên nhiều phương diện. Nhiều DSVH sau khi được vinh danh đã được đầu tư “làm mới” nhằm mục đích hoành tráng hóa cho “xứng tầm” với danh hiệu. Trong bài nghiên cứu về Thách thức bảo tồn tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ theo Công ước 2003, nhà nghiên cứu Lê Hồng Lý cho rằng, “những ý tưởng và quan điểm về sự “xứng tầm”, “hoành tráng” của một di sản khi được vinh danh sẽ có nguy cơ làm hủy hoại đến không gian, ý nghĩa vốn có của di sản”, bên cạnh những giá trị tinh thần, giá trị văn hóa, vai trò, ý nghĩa của nó đối với cộng đồng chủ nhân còn có “giá trị thị trường” được gán cho di sản, tức là làm thay đổi những giá trị vốn có của nó đã được UNESCO công nhận [74, tr. 390]. Vấn đề này cũng được tác giả Nguyễn Thị Hiền đề cập trong bài viết Bảo tồn di sản Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc sau khi được UNESCO vinh danh [47]; Lê Thị Minh Lý trong nghiên cứu Bảo vệ DSVH phi vật thể hội Gióng trong đời sống đương đại [79]; Từ Thị Loan với nghiên cứu Bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại tại Việt Nam [70]. Các tác giả cho rằng, quan điểm DSVH phi vật thể sau khi vinh danh được “quy hoạch”, “đầu tư”, “nâng cấp”, xây dựng cho “hoành tráng hơn” và “xứng tầm thế giới” tạo ra những thách thức mới trong việc bảo tồn DSVH. Nhóm nghiên cứu Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Hiền, Đào Thế Đức, Hoàng Cầm khi tìm hiểu về hội Gióng sau khi được UNESCO công nhận vào danh sách đại diện văn hóa phi vật thể của nhân loại cho thấy, lãnh đạo địa phương và người dân đều rất tự hào vì di sản của họ đã “vươn ra tầm thế giới”, không ít

28. 22 quan điểm cho rằng cần phải làm cho hội Gióng có quy mô “ở tầm quốc tế”, “khác trước”, “hoành tráng hơn” [76]. Bên cạnh đó, xu hướng “sân khấu hóa” các lễ hội, DSVH sau khi được vinh danh ngày càng phổ biến. Nhiều lễ hội ở cấp địa phương sau khi được vinh danh di sản đồng thời đã được “chính quy hóa”, trở thành những “buổi lễ trình diễn” với nhiều ý nghĩa mới. Điều này làm thay đổi bản chất của di tích, di sản cả trong nội dung, ý nghĩa đến phương thức tiến hành. Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Trần Quang Hải chỉ ra trong bài viết 10 năm công ước về bảo vệ DSVH phi vật thể của UNESCO có tác dụng gì đối với các DSVH phi vật thể của Việt Nam đã được và có thể sẽ được tuyên dương, cho rằng hát quan họ ngày nay đã được “sân khấu hóa”, trở thành “một dịch vụ”, “không phải hát cho nhau nghe mà là hát cho cộng đồng nghe” nên cần cả micro, loa và thêm cả phần nhạc đệm. Các liền anh, liền chị hát xong được nhận tiền “là điều bình thường” [45, tr. 235]. Tác giả Lê Thị Ho

Add a comment